TẤT CẢ CÁC DÒNG SÔNG ĐỀU CHẢY - Nancy Cato
Trang 1 trong tổng số 3 trang • Share •
Trang 1 trong tổng số 3 trang • 1, 2, 3 
TẤT CẢ CÁC DÒNG SÔNG ĐỀU CHẢY - Nancy Cato
Tất cả các dòng sông đều chảy - All the rivers run
Tác giả: Nancy Cato
Người dịch : Trương Võ Anh Giang và Anh Trần
nguồn: thuvien-ebook.com
Tác giả: Nancy Cato
Người dịch : Trương Võ Anh Giang và Anh Trần
nguồn: thuvien-ebook.com
Tất cả những dòng sông đều chảy về biển,
nhưng biển lại không đầy.
Những dòng sông lại quay về đổ vào cội nguồn
Nơi phát sinh ra chúng.
nhưng biển lại không đầy.
Những dòng sông lại quay về đổ vào cội nguồn
Nơi phát sinh ra chúng.

Pouring rất thích truyện này, muốn share với mọi người nên đánh máy tới trang 120/631 thì không có thời gian để đánh tiếp bạn nào có thời gian thì phụ Pouring nha.
Lời giới thiệu
Nancy Cato còn là một cái tên rất lạ đối với độc giả Việt Nam. Nhưng khán giả của màn ảnh nhỏ của Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lại rất nhớ cuốn phim truyền hình nhiều tập ''Tất cả các dòng sông đều chảy", được dàn dựng dựa trên quyển tiểu thuyết cùng tên của bà. Trong người xem còn đậm nét hình ảnh kiều diễm của Philadelphia Gordon với đôi mắt đăm đắm nhìn như thấu suốt lòng người, và những tình tiết hấp đẫn xoay chung quanh cuộc đời của nữ hoa sĩ nhiều cá tính độc đáo này.
Cùng với Colleen Mc Cullough, Nancy Cato đang khiến thế giới thay đổi sư đánh giá đối với nền văn học Úc, xưa nay, vốn mờ nhạt và thiếu bản sắc. Nếu "Những con chim ẩn mình chờ chết" của Colleen Mc Collough làm say mê độc giả bốn phương với câu chuyện đầy kịch tính dưới một nghệ thuật mô tả tài hoa, sống động thì ''Tất cả các dòng sông đều chảy'' với ngôn ngữ chuẩn xác, tính cách nhân vật xây dựng chặt chẽ, lồng trong bối cảnh nước Úc phong phú, cũng đáng mặt kỳ phùng (báo Publishers Weekly).
"Tất cả các dòng sông đều chảy'' viết về đời của nữ họa sĩ Philadelphia diễn ra trên dòng sông Murray và Darling, miền Nam nước Úc. Từ thuở hoa niên sống với dì dượng bên bờ sông, những ngày làm nữ thuyền trưởng duy nhất dọc ngang vùng Victoria, rồi đến lúc tuổi già bóng xế, đời cô gắn liền với nhịp đập của sông nước. Nhưng "Tất cả các dòng sông đều chảy" không đơn thuần chỉ là chuyện kể về đời riêng của một con người. Ở đó chứa đựng những suy nghĩ rộng hơn, bao quát hơn và mang chất triết lý. Đời người như đời sông, như cuộc sống hòa tan với thời gian: luôn luôn trôi đi nhưng không ngừng đổi mới, mãi mãi biến chuyển nhưng muôn đời vẫn thực. Tất cả sông rồi sẽ đi về biển, từ biển bao la sẽ rót vào những lòng sông mênh mông tràn đầy, mạch luân lưu không ngơi nghỉ ấy là cuộc sống. Sẽ không bao giờ có cái chết vì nơi tận cùng cũng là khởi thủy cho những mầm sống mới.
Mượn dòng sông và đời họa sĩ Philadelphia để thể hiện những suy nghĩ của mình về cuộc sống, Nancy Cato trong ''Tất cả các dòng sông đều chảy'' còn viết những trang rất chân thực về nước Úc đầu thế kỷ XX. Nước Úc và thời định cư của người da trắng cũng là đề tài cho các tiểu thuyết sau này của bà: ''Tổ tiên", "Đường nâu"," Tây Bắc hướng Nam''.
Giới thiệu Nancy Cato và ''Tất cả các dòng sông đều chảy" của bà đến quí vị độc giả, nhà xuất bản Văn nghệ chúng tôi chân thành mong những dòng văn êm ả nhẹ nhàng này sẽ mang đến cho quí vị những phút giây hạnh phúc.
Mở đầu
Một dòng nước nhỏ vừa phát sinh trên cao, trong vùng núi Alp ở Úc, di chuyển dưới tuyết mà không ai trông thấy hoặc có thể thoáng thấy xuyên quan một cái hố che bóng xanh lơ giữa những chiếc cầu tuyết đang tan chảy. Càng lúc càng rộng và càng sâu hơn, dòng nước cuồn cuộn quanh những tầng đá mòn, ngầu bọt xuyên qua những ghềnh và nhảy chồm lên những thác nước, rồi cuối cùng chảy lên các cánh đồng như một dòng sông rộng và nguy nga.
Giờ đây, chính nó được các nhánh sống từ phía nam, phía đông và phía bắc đổ vào. Người ta bảo rằng có những mẫu chất khoáng và hữu cơ trên thế giới có thể được tìm thấy trong các dòng nước sông Murray. Vàng, đất sét, than đá, đá vôi, người chết, cá chết, cây đổ, thuyền mục; tất cả hoặc bị tan hoặc bị vỡ ra rồi bị cuốn trôi trong dòng sông trầm lặng đó.
Nó giống như cuộc sống bị tan trong thời gian: lúc nào cũng trôi qua. ấy thế mà lúc nào cũng như cũ. Càng chảy xa nó càng trở nên phức tạp hơn, dòng sông càng trở thành già cỗi và lờ đờ vào lúc nó đến gần biển cả. Dòng sông quanh co xuyên qua các biển hồ rộng hầu như không chảy và những con kênh đầy cát về phía sóng lớn vỗ bờ của vịnh Goolwa, những đợt sóng cuồn cuộn dài hàng dặm của Đại dương phía Nam.
Thị trấn nhỏ Goolwa mọc lên trên khúc quanh cuối cùng của con sông lớn, chậm và mệt mỏi này. Những tòa nhà cũ kỹ, làm bằng đá vôi ở địa phương, đã phai màu gióng như màu của những ngọn đòi tháp rợp nắng phía sau. Trước mặt, dòng sông trải dài trên cầu tàu gấp khúc và hoang vắng. Một số chiếc thuyền chèo cũ kỹ bị cột lại như những nhà thuyền (House boats), hoặc nằm nghỉ trên bùn.
Các bạn có thể đến thăm thị trấn Goolwa hằng chục lần mà không biết rằng gần đấy là biển, cũng không biết rằng cửa sông Murray mất hút trong những đồi cát hỗn độn. Rồi vào một ngày có gió nam, hoặc vào một đêm tĩnh mịch giữa mùa hè, các bạn sẽ nghe thấy một tiếng sấm nhỏ. Đó là tiếng nói của biển cả.
Con sông có thể trầm lặng và trong vắt, phản chiếu sao Thập Tự sáng chói trong dòng nước tối om, nhưng lúc nào tiếng gầm của sóng cồn vỗ bờ kia cũng nhấn mạnh sự êm đềm, bàng bạc vẻ tĩnh mịch với âm thanh không bao giờ tắt của nó.
Giờ đây, tất cả biến thành một, dòng nước nhỏ dưới lớp tuyết, ngọn thác, con suối trong vùng núi và dòng nước tuôn chảy, và trong âm thanh lúc cuối cùng nó tan chảy, con sông tựa hồ như bảo rằng: “Không có cái chết: lúc kết thúc cũng là lúc khởi đầu”.
Được sửa bởi lu khach ngày Sun May 02, 2010 6:34 pm; sửa lần 3.
lu khach- Kiếm Bạc
- Tổng số bài gửi: 540
Join date: 27/01/2010
Đến từ: Quỷ Môn Quan
Re: TẤT CẢ CÁC DÒNG SÔNG ĐỀU CHẢY - Nancy Cato
Tất cả các dòng sông đều chảy - All the rivers run
Tác giả: Nancy Cato
Người dịch : Trương Võ Anh Giang và Anh Trần
Tập Một
Một Dòng Sông Chưa Bị Chế Ngự
Tác giả: Nancy Cato
Người dịch : Trương Võ Anh Giang và Anh Trần
Tập Một
Một Dòng Sông Chưa Bị Chế Ngự
1
Làn khói trắng mỏng dật dờ bốc cao, để rồi bị tan hẳn trong mảng xanh nhạt và xanh lơ đẹp đẽ. Delie nghĩ, như khói hương. Khoảng xanh lơ bao la kia ắt hẳn là bầu trời.
Có cái gì đang đau- phía dưới mũi và cuống họng cô- Và cô nhớ tới kẻ nào đó- hay chính là cô? – đang ho và nôn ọe. Ngực cô đau nhức.
Cô quay đầu lại và trong tầm mắt cô là một người đàn ông. Một người đan ông khổng lồ cao vút tới trời. Anh ta có ria mép, nhưng anh ta trông không giống Thượng đến nhiều lắm. Gương mặt tròn trịa, đỏ au, hào hiệp của anh ta khuất một nửa bởi bộ ria sậm màu nhưng lốm đốm xám ấy. Ngực anh cũng đầy lông, trên cái quần lao động xanh bằng vải trúc bâu bạc màu xắn cao lên tới đầu gối.
Gương mặt anh đỏ cúi xuống cô và mỉm cười, phô hàm răng sún với những chiếc răng đóng bợn.
- Đỡ hơn chứ, cô em?
Cô cố cười lại
- Vâng, cảm ơn ông.
Trong khi cô nghe tiếng nói của chính cô, ký ức về những gì đã xảy ra quét lên người cô như một cơn sóng giá buốt, như cơn sóng đã quét cô ra biển.
Trời chưa rạng sáng, cô đã thức giấc rất sớm, bởi vì đó là đêm cuối cùng của họ còn ở trên tàu. Hôm sau họ sẽ tới Melbourne và đến Úc lần đầu tiên. Cô khao khát được trông thấy đất nước mà cha cô đã nói đến rất nhiều, nơi dì cô đã tới sinh sống mấy năm trước.
Trước đấy một hôm, cô đã trông thấy bờ biển trải dài tới phía tây bắc, thấp, xanh, lơ và bí ẩn. Lúc chiều tối, cô đã ngửi thấy hơi thở nhè nhẹ, ấm áp, có mùi vị của ngọn gió hiu hiu trên đất liền. Cha cô bảo rằng đó là hương cây thoảng trong gió, hương cây khuynh diệp.
Sáng ấy cô đã dậy sớm và lặng lẽ thay quần áo, lên boong tàu một mình và cảm thấy lần cuối cùng con tàu lướt dưới đôi chân của cô, trên những ngọn sóng vỗ bờ chạy dài thăm thẳm ở phía nam, như một con ngựa to lớn dũng cảm đang chạy nước kiệu trên những cánh đồng của biển cả.
Trời còn tối lắm, nên cô chỉ có thể trông thấy nước trắng xóa xì xì dọc theo mạn tàu, và một ít ngôi sao đang bị mờ đi nhanh chóng bởi một áng mây trôi chậm chạp và vô tình. Những cánh buồm căng rộng cong cong trên đầu cô, gió rít the thé trong đám cột buồm.
Qua ánh sáng rực rỡ, ma quái của ngọn đèn của cái la bàn cô có thể trông thấy người lái tàu, và phía sau ông ta là viên sĩ quan đang phiên gác. Không ai khác trên boong tàu ngoài người đàn ông đang đứng canh xa xa ở mũi tàu.
Mặt biển sạm màu rọi những đường trắng xóa trong khi những ngọn sóng dâng cao tràn ra. Bỗng có tiếng la điên cuồng của người đứng canh.
- Sóng thần! Sóng thần ở phía trước!
Ngay khi người sĩ quan gào lên ra lệnh và người lái tàu quay banh xe thật mạnh lên trên, con tàu va mạnh ầm ầm, vỡ tan từng mảnh. Cột tàu nghiêng ngả như cây cối trong gió lốc, dây néo bay vun vút. Một cơn sóng thật to ngầu bọt trắng xóa dựng đứng ở phía nam, đổ chụp lên con tàu đang kinh hãi.
Và cô, Delie Gordon, người hành khách duy nhất trên boong tàu, liền bị chôn vùi trong dòng nước giá buốt và bị quét ra ngoài mạn tàu.
Được sửa bởi lu khach ngày Fri Apr 30, 2010 4:55 pm; sửa lần 3.
lu khach- Kiếm Bạc
- Tổng số bài gửi: 540
Join date: 27/01/2010
Đến từ: Quỷ Môn Quan
Re: TẤT CẢ CÁC DÒNG SÔNG ĐỀU CHẢY - Nancy Cato
2
Chiếc xe lửa giật nảy, xì xì nhả hơi nước rồi dừng lại ở một nhà ga tăm tối. Chiếc xe lửa này chạy rất chậm. Nó đã nhồi lên nhồi xuống, đong đưa cả ngày trời và một phần trong đêm để tới địa điểm này. Giờ đây nó đứng yên, thở hổn hển một cách mãn nguyện vì đã hoàn thành công việc, tuyến đường đến đây là hết.
Người trưởng ga mở cánh cửa đánh sầm. một cách chính xác tựa hồ như người hành khách bé nhỏ còn ở lại kia là cả một toa đầy người, bác hét to:
- Nhanh! Nhanh lên! Sang xe tại đây rồi đi tiếp lên núi bằng xe ngựa.
Delie nhặt nhanh đồ đạc rải rác của mình, đội lên đầu chiếc mũ rơm có những dây ruy băng đen mà người cố vấn pháp luật hào hiệp, một người hoàn toàn xa lạ với cô, đã cố nài nỉ để mua cho cô ở Melbourne: " Được rồi, cô bé. Nếu muốn thì khi nào xong xuôi tất cả công việc về bất động sản của cha cô, cô sẽ trả lại tôi". Và ông còn mua thêm cho cô một đôi găng và một đôi giày nữa.
Ai cũng rất tốt, hết sức tốt. Giờ đây cô có một túi đầy vật dụng mà bà Brownlow đã ném cho cô, cả đến chiếc rốp rộng thùng thình và chiếc áo khoác ngoài của cô. Bà ta là người đã chăm nom cho cô trên cả tuyến đường đi tới Golburn trước khi sang xe lửa. Bà ta rất có thiện cảm với cô nhưng hơi độc đoán. Cuối cùng, cô rất vui khi được ở một mình. Giờ đây, cô cảm thấy sợ. Tất cả đều đen tối và xa lạ, cô hy vọng người dượng sẽ chờ cô tại nhà ga.
Người trưởng ga nhìn khuôn mặt bé nhỏ trắng trẻo của người hành khách cuối cùng, bỏ dáng điệu trịnh trọng và trở nên thân mật như người cha, bác bảo:
- Cháu bé, cháu đưa lại vé xe. Cháu trao cái túi xách kia đây. Đủ cả rồi hở cháu? Cháu nhìn dưới băng ngồi xem? Được rồi.
Cô theo bác bước ra ngoài, trời gió lạnh giá. hai ngọn đèn vuông vức soi sáng lờ mờ nhà ga nhỏ. một người cao lớn, với bộ ria ngả xuống và bộ râu cằm đen thui bước về phía cô. Ông ta khoác một chiếc áo dài gần chấm gót chân và đội một cái nón nỉ rộng vành.
Ông hỏi:
- Phải cô là Philadelphia Gordon không?
người trưởng ga hỏi lại:
- Ông là dượng cô ấy à? Tôi có nghe ông Charles Jamieson ở Kiandra bảo như thế.
- Đúng, chính tôi, cảm ơn ông.
Ông bí mật giúi vào tay người trưởng ga một vật gì đó.
- Mạnh giỏi, cháu?
Người cao lớn cuối xuống hôn má cô, đôi ria mép của ông làm cô nhồn nhột. Cô bẽn lẽn mỉm cười với ông. Ông chỉ là dượng cô, nhưng là người bà con đầu tiên mà cô gặp, hầu như là người bà con duy nhất ở đất nước mới mẻ, xa lạ này.
Ông nhìn xuống cô, hơi ngạc nhiên.
- Philadelphia là cháu! Thế mà dượng tưởng rằng dượng sẽ gặp một cô bé.
Và ông ta đưa tay ra dấu khoảng ngang tầm đầu gối của mình.
- Thưa dượng, cháu mới gần một3 tuổi thôi! Cháu lớn hơn tuổi. Má cháu bảo... - Cô lảo đảo, trong khi những giọt nước mắt đau buồn mà cô đã cố nén lại ươn ướt trong mắt cô - ...M... má cháu thường bảo cháu lớn nhanh quá.
Ông để túi xách xuống, nắm bàn tay cô kéo qua cánh tay mình, bàn tay kia vỗ vỗ.
- Dượng hy vọng dì cháu sẽ là người mẹ mới của cháu, cháu ạ. Dượng..dì dượng rất mong gặp được cháu, dì dượng sẽ phải nuôi cho cháu béo ra. Dì cháu nấu ăn giỏi lắm.
Cô vui mừng vì ông không nói gì về vụ đắm tàu, một đề tài mà mỗi lần nhắc đến cô lại thấy đau buồn. Trên đường đi đến khách sạn, cô vừa kể cho ông nghe về chuyến đi bằng xe lửa từ miền duyên hải phía nam đến Melbourne và về người bạn của cô: người thủy thủ đã cứu cô, người hành khách duy nhất còn sống sót; nhưng cô không đề cập đến những ngày ghê sợ họ cùng sống trên bãi biển, cũng không đề cập đến những hình thù đen tối chồm chồm lờ đờ trong sóng nước mà cô vẫn trông thấy trong giấc mơ.
Lúc hai dượng cháu ra khỏi chỗ núp ở nhà ga, gió thổi chụp lên người họ. Gió lạnh, khô, thanh mảnh thổi xuyên qua chiếc áo khoác cô mượn dùng tạm.
Ông bảo:
- Dượng cháu mình ngủ một chút, sáu giờ sáng mai xe đi Ademinaby mới khởi hành.
Trời hãy còn tối, ông đã gọi cô, cô luống cuống thay y phục qua ánh nến. Bữa ăn sáng gồm có trà, bánh mì nướng nóng phết một miếng bơ lớn, mặn, chưa chảy. Cô vẫn còn chưa tỉnh ngủ khi hai dượng cháu bước ra chiếc xe ngựa có thắp đèn.
Những đốm sao còn hiện trên bầu trời vẩn mây. Những hình thù to lớn dường như dâng lên khắp cả chân trời. Trời không có gió, không khí lạnh cắt da cắt thịt.
Chiếc xe vọt tới. Không khí mát lạnh làm cô tỉnh ngủ, cô bỗng thấy một niềm hứng khởi dâng lên trong người. Cô rất muốn ra đi, đi bất cứ nơi đâu, trong ánh bình minh huyền diệu.
Cảm thấy cần tỏ ra biết xả giao, cô cất tiếng:
- Dượng Charles, dượng kể cho cháu nghe về mỏ vàng của dượng đi.
- Hả....hả?
Ông nghi ngờ nhìn 3 người hành khách đàn ông khác, râu quai nón bờm xờm, trên người khoác những lớp y phục không ra hình thù gì cả. Rồi ông nói to:
- Không phải mỏ đâu, cháu. Dượng chỉ tìm kiếm trong một mạch mỏ trước kia ở Kiandra thôi. Tất cả những thứ tốt đều đã bị mang đi mấy năm trước rồi. Bây giờ thỉnh thoảng chỉ được chút chút,, không bõ thời gian dượng hao tốn vào đấy đâu.
Rồi ông quay sang cô, mắt ông nhấp nháy, chậm và lâu.
Không biết phải hiểu như thế nào, cô bảo:
- Thưa dượng, còn về núi non thì sao? Phải ở đó có những ngọn núi khổng lồ tuyết phủ trắng quanh năm như ở Thụy Sĩ không?
- Cháu có đi Thụy Sĩ rồi à?
- Thưa không. Nhưng ba cháu có đi, lúc lên tới đỉnh núi Jungfrau cao tới 4160 thước, ba cháu có gửi cho cháu một bưu thiếp. Ba cháu thường đưa cả nhà đi leo núi ở phía Bắc nước Anh. Ba cháu có hứa là sẽ đưa cả nhà...
Cô ngập ngừng, nước mắt ràn rụa. Giờ đây đâu còn "cả nhà" nữa, chỉ còn mỗi mình cô.
Ông vỗ vỗ bàn tay cô.
- Ngày nào đó, dượng sẽ đưa cháu đi leo núi, nhưng từ Kiandra tới đây đường tốt lắm, chỉ có đồi ở độ cao một nghìn sáu trăm thước. Nhưng sáng nay cháu sẽ trông thấy núi Kosciusko.
Cô siết tay ông, tỏ lòng biết ơn. Ông cúi xuống nhìn cô chăm chú.
- Đêm qua, dượng không có dịp nhìn cháu kỹ lắm. Mứt xanh lở hở, tóc đen! Dượng vẫn luôn luôn muốn có một đứa con gái giống như cháu.
- Thật ra tóc cháu không đen lắm đâu, chỉ hơi sậm thôi. Dượng không có con gái à?
- Không, dì dượng chỉ có một đứa con trai, nó gần mười lăm tuổi. Dượng…dì dượng lúc nào cũng muốn có con gái, nhưng lại không sinh được. Dì của cháu sức khỏe yếu, ắt mẹ cháu có nói cho cháu biết. Lúc nghe gia đình cháu đến thăm dì dượng, dượng rất mừng, Philadelphia ạ.
- Cháu…cháu thường được gọi là Delie. Gọi đủ tên cháu thì dài lắm.
- Vậy thì Delie. Tên cháu được đặt theo một thành phố của Mỹ à? Còn thằng con trai của dượng thì tên là Adam, đặt theo kinh thánh.
- Thưa dượng, đúng thế ạ. Trước khi nghĩ tới nước Úc, lúc nào ba cháu cũng tính sang nước Mỹ. So với tuổi thì anh Adam có cao lớn không dượng? Anh có sáng trí không? Còn cháu thì dở số học lắm.
- Có, nó to con lắm. Thường thì thầy cô ghi nhận xét trong học bạ nó khá hơn, nhưng có ghi thêm là nếu nó cố gắng thì nó còn khá hơn nữa. Nó lại hay mơ mộng, hay quên, và lúc nào cũng chúi mũi vào sách vở.
- Ba má cháu cũng nói với cháu như thế.
Đôi mắt xanh của cô liếc nhanh người dượng, vui vẻ dưới đôi mày ngài. Đôi mắt cô to, xanh thẳm, quá to so với khuôn mặt xanh mét, gầy ốm, thanh tú, nhạy cảm…
*
Bác bưu tá Danny ra khỏi quầy rượu, mặt đỏ gay tươi tắn vì rượu rum, bác bảo:
- Hình như chuyến này là chuyến xe cuối cùng trong mùa, ông Charles nhỉ. Tuyết rơi nhiều thêm.
Bác Danny ném túi thư vào thùng xe, leo lên cầm cương. Bác thét to:
- Xe thư chạy liền! Xin mời tất cả bà con lên xe!
Bác ra roi, chiếc xe chạy lên đồi.
Vào lúc xế chiều, họ tới Kiandra, vòng ngoài củ một thị trấn mỏ cũ với vẻ tiêu điều, buồn bã của những ngôi nhà không mái và những ống khói không có khói.
Bác Danny đưa túi xách, ông Charles cầm lấy, rồi đỡ Delie xuống, lúc ấy lạnh cóng cả chân tay. Ông dẫn cô đến một ngôi nhà gỗ nhỏ- Delie nghĩ: đó là túp lều thì đúng hơn- Sau dãy cọc rào. Ông đẩy cửa trước mở ra, thảy bao thư và túi xách của Delie vào trong rồi gọi:
- Bà ơi! Tôi với cháu về tới rồi!
Một lúc sau, một người đàn bà trung niên, vừa người, mặc váy sậm màu bước nhanh ra hành lang chia đôi ngôi nhà.
Ông charles hơi cáu:
- Bà không nghe tiếng xe ngựa về tới à?
- Nghe chứ sao không? Nhưng không lẽ để khét thức ăn hay sao? Bộ con bé đói lắm rồi hả?
Ông ta hôn phát vào má bà ta rồi trịnh trọng nói:
- Cháu Philadelphia Gordon của bàn đây.
- Philadelphia! Sao Charlotte lại chọn một cái tên nước ngoài như thế không rõ…
- Thưa, không phải má cháu mà là ba cháu chọn đấy!
- …Cháu thân yêu. Mừng cháu đến Kiandra này…Một nơi lạnh lẽo, khốn khổ, nát rượu- Bà cúi người hôn lên má cô. Chót mũi của bà lạnh lẽo, nhọn hoắt.
Cô liền nghĩ: “mình không thích dì, dì phô cả răng lẫn lợi lúc mĩm cười, cái mũi thấy ghê, chót mũi thì lạnh và ướt”.
Người dì nhìn đứa cháu với đôi mắt đen, nhỏ và sắc. Có phải thật đây là người chị của bà mẹ xinh đẹp đáng yêu của cô không? Delie cố tìm nét giống nhưng vô ích, cô cần phải cất tiếng phá tan cảnh im lặng.
- Cháu xin cảm tạ dì có lòng tốt nhận cháu về đây. Cháu sẽ c…cố…
Rồi cô khóc òa, điều mà chính cô cũng ngạc nhiên.
- Kìa, kìa, cháu, cháu mệt quá rồi. Cháu vào bên trong gần lò sưởi đi.
*
Sau bữa ăn chiều, Delie vào căn phòng nhỏ ăn thông với nhà bếp, đặt số đồ đạt ít ỏi của cô vào một cái thùng nhỏ ở đấy. Một cái giường hẹp trải vải giường sạch tinh và tấm chăn xếp nếp hình tổ ong trắng. Trong góc phòng có cái tủ com-mốt, bên trên là một tấm gương nhỏ lốm đốm vì bị khí ẩm.
Cô nhìn tấm gương, đôi mắt mở to, chăm chú. Chỉ trong một thời gian ngắn mà cô thay đổi nhiều quá. Cô gái trong gương với đôi mắt mở to, tối sầm, là chính cô.
- Philadelphia Gordon – Tại một nơi nào đó ở vùng núi cao trên một đất nước xa lạ?
Giọng của người dì, nhanh nhảu và vui vẻ khác với giọng the thé thường ngày, lại gọi cô.
Bà bước vội vào với một viên gạch nóng bọc nỉ mỏng để làm ấm chiếc giường, bà nói:
- Chắc chắn cháu đã quen với những thứ đàng hoàng hơn thứ này. Má cháu có chồng giàu hơn dì. Dì phải làm việc ở bưu điện mới có tiền cho thằng bé đi học, chứ nếu dượng cháu mà lo liệu chuyện đó- lúc nào ông ấy cũng lang thang đi tìm vàng mà có gì đâu- cả nhà này chắc chết đói hết.
Nói xong bà lại khịt khịt mũi…Cô cảm thấy dễ chịu khi giọng nói của bà không còn nữa.
Người dì lại nói khẽ:
- Tội nghiệp Lottie!(tên tắt của Charlotte) Tội nghiệp cho cháu, mồ côi lúc mới mười hai tuổi đầu! Thôi! Cháu ạ, bá má cháu đã ngủ trong vòng tay của chúa, chúng ta phải nhớ điều đó, không được buồn.
Cô hơi co rúm người tránh cánh tay xương xẩu quàng quanh vai cô. Mẹ cô đã ngủ trong biển cả xanh lục lanh lẽo, cha cô và tất cả anh chị em cô đã bị vùi trong một con sóng thần đơn độc. Sao cô lại không buồn cho được? Và tất cả hành khách, thuyền trưởng Johannsen, người chủ tàu bạn cô, đều đã chết đuối.
Cô không trả lời. Xịch ra xa người dì, cô với tay lên giường lấy chiếc mũ rơm có ruy-băng đen đặt lên trên chiếc tủ com-mốt.
- Cháu à, tiếc là chiếc rốp của cháu màu nâu…nhưng tất nhiên là cháu không biết rằng cháu cần phải mặc rốp đen. Ờ, tạm thời cháu có thể mang trên tay ruy-băng đen bằng nhiễu. V ì tất nhiên là cháu không thể đi ra ngoài mà không để tang.
- Thưa dì, dì bảo chúng ta không được buồn mà?
Người dì nhìn cô với đôi mắt sắc lẹm:
- Cháu thích hỏi vặn lắm hả? Đối với người rất thần thì phải luôn luôn để tang. Chắc cháu biết rồi. Giờ đây, dì muốn hỏi cháu một chuyện.
Bà ta ngừng tiếng, nhìn cô dò xét.
- Ơ…chỉ có hai người, cháu và người…người thủy thủ sống sót khi tàu đắm. Theo thư của các ngân hàng cha cháu gửi tiền thì cháu và ông ta lang thang trên bở biển suốt hai ngày…Vậy…cháu và ông ta ngủ ở đâu?
- Ngủ trong một cái hang. Cái hang đó ở lưng chừng đường trên triền vách đá dựng…
- Ngủ trong cùng một cái hang à?
- Thưa, phải vậy thôi. Chỉ có một cái hang- Cô có vẻ khó chịu.
Cô không muốn người dì hỏi tiếp.
- Hừ…
Người dì đưa chổi quét trên chiếc tủ com-mốt sạch bóng như để quét bụi. Bà không nhìn cô, bà cẩn thận xem xét nóc tủ và nói:
- Người đàn ông đó có…cháu cứ nói thật với dì, đừng sợ- Ông ta…ông ta…có làm gì cháu không?
- Làm gì à? – cô nhắc lại không hiểu.
Rồi thấy bà lúng túng, cô thoáng hiểu. Cha cô là một bác sĩ có những tư tưởng tiên tiến trong việc giáo dục con gái, và cô cũng đã hiểu ít nhiều về sinh lý học.
- Thưa dì, bác Tom hết sức tử tế…Bác rất tốt với cháu, đàng hoàng lắm. Trông bác thì khiếp lắm, râu rậm và đen thui, hàm răng mất hết mấy cái, người thì xăm mình, v.v…Nhưng bác hiền như con chiên con. Nếu không nhờ bác, chắc cháu cũng chết rồi.
Môi cô lại run run, cô cắn chặt môi.
Bà Hester nhanh nhảu:
- Vậy dì hết lo rồi. Dì có thể bảo rằng cháu may mắn lắm mới gặp ông ta như thế. Một số người đàn ông thì…
- Bà tiếp, mặt sa sầm- Thôi, dì để cháu ngủ.
- Xin cảm ơn dì, chúc dì ngủ ngon.
Bà bước ra ngoài, cô ngồi trên giường, cảm tháy hết sức cô đơn và xa lạ. Giá mà ông anh họ Adam của cô có ở nhà. Giá mà chỉ một anh em trai hoặc một chị em gái của cô, chỉ một thôi, sống sót để cùng sống cuộc sống mới xa lạ này…Cô sẽ cố tỏ ra thật ngoan và làm cho dì thích mình. Và qua ông dượng, cô biết rằng cô đã có được một đồng minh.
Chiếc xe lửa giật nảy, xì xì nhả hơi nước rồi dừng lại ở một nhà ga tăm tối. Chiếc xe lửa này chạy rất chậm. Nó đã nhồi lên nhồi xuống, đong đưa cả ngày trời và một phần trong đêm để tới địa điểm này. Giờ đây nó đứng yên, thở hổn hển một cách mãn nguyện vì đã hoàn thành công việc, tuyến đường đến đây là hết.
Người trưởng ga mở cánh cửa đánh sầm. một cách chính xác tựa hồ như người hành khách bé nhỏ còn ở lại kia là cả một toa đầy người, bác hét to:
- Nhanh! Nhanh lên! Sang xe tại đây rồi đi tiếp lên núi bằng xe ngựa.
Delie nhặt nhanh đồ đạc rải rác của mình, đội lên đầu chiếc mũ rơm có những dây ruy băng đen mà người cố vấn pháp luật hào hiệp, một người hoàn toàn xa lạ với cô, đã cố nài nỉ để mua cho cô ở Melbourne: " Được rồi, cô bé. Nếu muốn thì khi nào xong xuôi tất cả công việc về bất động sản của cha cô, cô sẽ trả lại tôi". Và ông còn mua thêm cho cô một đôi găng và một đôi giày nữa.
Ai cũng rất tốt, hết sức tốt. Giờ đây cô có một túi đầy vật dụng mà bà Brownlow đã ném cho cô, cả đến chiếc rốp rộng thùng thình và chiếc áo khoác ngoài của cô. Bà ta là người đã chăm nom cho cô trên cả tuyến đường đi tới Golburn trước khi sang xe lửa. Bà ta rất có thiện cảm với cô nhưng hơi độc đoán. Cuối cùng, cô rất vui khi được ở một mình. Giờ đây, cô cảm thấy sợ. Tất cả đều đen tối và xa lạ, cô hy vọng người dượng sẽ chờ cô tại nhà ga.
Người trưởng ga nhìn khuôn mặt bé nhỏ trắng trẻo của người hành khách cuối cùng, bỏ dáng điệu trịnh trọng và trở nên thân mật như người cha, bác bảo:
- Cháu bé, cháu đưa lại vé xe. Cháu trao cái túi xách kia đây. Đủ cả rồi hở cháu? Cháu nhìn dưới băng ngồi xem? Được rồi.
Cô theo bác bước ra ngoài, trời gió lạnh giá. hai ngọn đèn vuông vức soi sáng lờ mờ nhà ga nhỏ. một người cao lớn, với bộ ria ngả xuống và bộ râu cằm đen thui bước về phía cô. Ông ta khoác một chiếc áo dài gần chấm gót chân và đội một cái nón nỉ rộng vành.
Ông hỏi:
- Phải cô là Philadelphia Gordon không?
người trưởng ga hỏi lại:
- Ông là dượng cô ấy à? Tôi có nghe ông Charles Jamieson ở Kiandra bảo như thế.
- Đúng, chính tôi, cảm ơn ông.
Ông bí mật giúi vào tay người trưởng ga một vật gì đó.
- Mạnh giỏi, cháu?
Người cao lớn cuối xuống hôn má cô, đôi ria mép của ông làm cô nhồn nhột. Cô bẽn lẽn mỉm cười với ông. Ông chỉ là dượng cô, nhưng là người bà con đầu tiên mà cô gặp, hầu như là người bà con duy nhất ở đất nước mới mẻ, xa lạ này.
Ông nhìn xuống cô, hơi ngạc nhiên.
- Philadelphia là cháu! Thế mà dượng tưởng rằng dượng sẽ gặp một cô bé.
Và ông ta đưa tay ra dấu khoảng ngang tầm đầu gối của mình.
- Thưa dượng, cháu mới gần một3 tuổi thôi! Cháu lớn hơn tuổi. Má cháu bảo... - Cô lảo đảo, trong khi những giọt nước mắt đau buồn mà cô đã cố nén lại ươn ướt trong mắt cô - ...M... má cháu thường bảo cháu lớn nhanh quá.
Ông để túi xách xuống, nắm bàn tay cô kéo qua cánh tay mình, bàn tay kia vỗ vỗ.
- Dượng hy vọng dì cháu sẽ là người mẹ mới của cháu, cháu ạ. Dượng..dì dượng rất mong gặp được cháu, dì dượng sẽ phải nuôi cho cháu béo ra. Dì cháu nấu ăn giỏi lắm.
Cô vui mừng vì ông không nói gì về vụ đắm tàu, một đề tài mà mỗi lần nhắc đến cô lại thấy đau buồn. Trên đường đi đến khách sạn, cô vừa kể cho ông nghe về chuyến đi bằng xe lửa từ miền duyên hải phía nam đến Melbourne và về người bạn của cô: người thủy thủ đã cứu cô, người hành khách duy nhất còn sống sót; nhưng cô không đề cập đến những ngày ghê sợ họ cùng sống trên bãi biển, cũng không đề cập đến những hình thù đen tối chồm chồm lờ đờ trong sóng nước mà cô vẫn trông thấy trong giấc mơ.
Lúc hai dượng cháu ra khỏi chỗ núp ở nhà ga, gió thổi chụp lên người họ. Gió lạnh, khô, thanh mảnh thổi xuyên qua chiếc áo khoác cô mượn dùng tạm.
Ông bảo:
- Dượng cháu mình ngủ một chút, sáu giờ sáng mai xe đi Ademinaby mới khởi hành.
Trời hãy còn tối, ông đã gọi cô, cô luống cuống thay y phục qua ánh nến. Bữa ăn sáng gồm có trà, bánh mì nướng nóng phết một miếng bơ lớn, mặn, chưa chảy. Cô vẫn còn chưa tỉnh ngủ khi hai dượng cháu bước ra chiếc xe ngựa có thắp đèn.
Những đốm sao còn hiện trên bầu trời vẩn mây. Những hình thù to lớn dường như dâng lên khắp cả chân trời. Trời không có gió, không khí lạnh cắt da cắt thịt.
Chiếc xe vọt tới. Không khí mát lạnh làm cô tỉnh ngủ, cô bỗng thấy một niềm hứng khởi dâng lên trong người. Cô rất muốn ra đi, đi bất cứ nơi đâu, trong ánh bình minh huyền diệu.
Cảm thấy cần tỏ ra biết xả giao, cô cất tiếng:
- Dượng Charles, dượng kể cho cháu nghe về mỏ vàng của dượng đi.
- Hả....hả?
Ông nghi ngờ nhìn 3 người hành khách đàn ông khác, râu quai nón bờm xờm, trên người khoác những lớp y phục không ra hình thù gì cả. Rồi ông nói to:
- Không phải mỏ đâu, cháu. Dượng chỉ tìm kiếm trong một mạch mỏ trước kia ở Kiandra thôi. Tất cả những thứ tốt đều đã bị mang đi mấy năm trước rồi. Bây giờ thỉnh thoảng chỉ được chút chút,, không bõ thời gian dượng hao tốn vào đấy đâu.
Rồi ông quay sang cô, mắt ông nhấp nháy, chậm và lâu.
Không biết phải hiểu như thế nào, cô bảo:
- Thưa dượng, còn về núi non thì sao? Phải ở đó có những ngọn núi khổng lồ tuyết phủ trắng quanh năm như ở Thụy Sĩ không?
- Cháu có đi Thụy Sĩ rồi à?
- Thưa không. Nhưng ba cháu có đi, lúc lên tới đỉnh núi Jungfrau cao tới 4160 thước, ba cháu có gửi cho cháu một bưu thiếp. Ba cháu thường đưa cả nhà đi leo núi ở phía Bắc nước Anh. Ba cháu có hứa là sẽ đưa cả nhà...
Cô ngập ngừng, nước mắt ràn rụa. Giờ đây đâu còn "cả nhà" nữa, chỉ còn mỗi mình cô.
Ông vỗ vỗ bàn tay cô.
- Ngày nào đó, dượng sẽ đưa cháu đi leo núi, nhưng từ Kiandra tới đây đường tốt lắm, chỉ có đồi ở độ cao một nghìn sáu trăm thước. Nhưng sáng nay cháu sẽ trông thấy núi Kosciusko.
Cô siết tay ông, tỏ lòng biết ơn. Ông cúi xuống nhìn cô chăm chú.
- Đêm qua, dượng không có dịp nhìn cháu kỹ lắm. Mứt xanh lở hở, tóc đen! Dượng vẫn luôn luôn muốn có một đứa con gái giống như cháu.
- Thật ra tóc cháu không đen lắm đâu, chỉ hơi sậm thôi. Dượng không có con gái à?
- Không, dì dượng chỉ có một đứa con trai, nó gần mười lăm tuổi. Dượng…dì dượng lúc nào cũng muốn có con gái, nhưng lại không sinh được. Dì của cháu sức khỏe yếu, ắt mẹ cháu có nói cho cháu biết. Lúc nghe gia đình cháu đến thăm dì dượng, dượng rất mừng, Philadelphia ạ.
- Cháu…cháu thường được gọi là Delie. Gọi đủ tên cháu thì dài lắm.
- Vậy thì Delie. Tên cháu được đặt theo một thành phố của Mỹ à? Còn thằng con trai của dượng thì tên là Adam, đặt theo kinh thánh.
- Thưa dượng, đúng thế ạ. Trước khi nghĩ tới nước Úc, lúc nào ba cháu cũng tính sang nước Mỹ. So với tuổi thì anh Adam có cao lớn không dượng? Anh có sáng trí không? Còn cháu thì dở số học lắm.
- Có, nó to con lắm. Thường thì thầy cô ghi nhận xét trong học bạ nó khá hơn, nhưng có ghi thêm là nếu nó cố gắng thì nó còn khá hơn nữa. Nó lại hay mơ mộng, hay quên, và lúc nào cũng chúi mũi vào sách vở.
- Ba má cháu cũng nói với cháu như thế.
Đôi mắt xanh của cô liếc nhanh người dượng, vui vẻ dưới đôi mày ngài. Đôi mắt cô to, xanh thẳm, quá to so với khuôn mặt xanh mét, gầy ốm, thanh tú, nhạy cảm…
*
Bác bưu tá Danny ra khỏi quầy rượu, mặt đỏ gay tươi tắn vì rượu rum, bác bảo:
- Hình như chuyến này là chuyến xe cuối cùng trong mùa, ông Charles nhỉ. Tuyết rơi nhiều thêm.
Bác Danny ném túi thư vào thùng xe, leo lên cầm cương. Bác thét to:
- Xe thư chạy liền! Xin mời tất cả bà con lên xe!
Bác ra roi, chiếc xe chạy lên đồi.
Vào lúc xế chiều, họ tới Kiandra, vòng ngoài củ một thị trấn mỏ cũ với vẻ tiêu điều, buồn bã của những ngôi nhà không mái và những ống khói không có khói.
Bác Danny đưa túi xách, ông Charles cầm lấy, rồi đỡ Delie xuống, lúc ấy lạnh cóng cả chân tay. Ông dẫn cô đến một ngôi nhà gỗ nhỏ- Delie nghĩ: đó là túp lều thì đúng hơn- Sau dãy cọc rào. Ông đẩy cửa trước mở ra, thảy bao thư và túi xách của Delie vào trong rồi gọi:
- Bà ơi! Tôi với cháu về tới rồi!
Một lúc sau, một người đàn bà trung niên, vừa người, mặc váy sậm màu bước nhanh ra hành lang chia đôi ngôi nhà.
Ông charles hơi cáu:
- Bà không nghe tiếng xe ngựa về tới à?
- Nghe chứ sao không? Nhưng không lẽ để khét thức ăn hay sao? Bộ con bé đói lắm rồi hả?
Ông ta hôn phát vào má bà ta rồi trịnh trọng nói:
- Cháu Philadelphia Gordon của bàn đây.
- Philadelphia! Sao Charlotte lại chọn một cái tên nước ngoài như thế không rõ…
- Thưa, không phải má cháu mà là ba cháu chọn đấy!
- …Cháu thân yêu. Mừng cháu đến Kiandra này…Một nơi lạnh lẽo, khốn khổ, nát rượu- Bà cúi người hôn lên má cô. Chót mũi của bà lạnh lẽo, nhọn hoắt.
Cô liền nghĩ: “mình không thích dì, dì phô cả răng lẫn lợi lúc mĩm cười, cái mũi thấy ghê, chót mũi thì lạnh và ướt”.
Người dì nhìn đứa cháu với đôi mắt đen, nhỏ và sắc. Có phải thật đây là người chị của bà mẹ xinh đẹp đáng yêu của cô không? Delie cố tìm nét giống nhưng vô ích, cô cần phải cất tiếng phá tan cảnh im lặng.
- Cháu xin cảm tạ dì có lòng tốt nhận cháu về đây. Cháu sẽ c…cố…
Rồi cô khóc òa, điều mà chính cô cũng ngạc nhiên.
- Kìa, kìa, cháu, cháu mệt quá rồi. Cháu vào bên trong gần lò sưởi đi.
*
Sau bữa ăn chiều, Delie vào căn phòng nhỏ ăn thông với nhà bếp, đặt số đồ đạt ít ỏi của cô vào một cái thùng nhỏ ở đấy. Một cái giường hẹp trải vải giường sạch tinh và tấm chăn xếp nếp hình tổ ong trắng. Trong góc phòng có cái tủ com-mốt, bên trên là một tấm gương nhỏ lốm đốm vì bị khí ẩm.
Cô nhìn tấm gương, đôi mắt mở to, chăm chú. Chỉ trong một thời gian ngắn mà cô thay đổi nhiều quá. Cô gái trong gương với đôi mắt mở to, tối sầm, là chính cô.
- Philadelphia Gordon – Tại một nơi nào đó ở vùng núi cao trên một đất nước xa lạ?
Giọng của người dì, nhanh nhảu và vui vẻ khác với giọng the thé thường ngày, lại gọi cô.
Bà bước vội vào với một viên gạch nóng bọc nỉ mỏng để làm ấm chiếc giường, bà nói:
- Chắc chắn cháu đã quen với những thứ đàng hoàng hơn thứ này. Má cháu có chồng giàu hơn dì. Dì phải làm việc ở bưu điện mới có tiền cho thằng bé đi học, chứ nếu dượng cháu mà lo liệu chuyện đó- lúc nào ông ấy cũng lang thang đi tìm vàng mà có gì đâu- cả nhà này chắc chết đói hết.
Nói xong bà lại khịt khịt mũi…Cô cảm thấy dễ chịu khi giọng nói của bà không còn nữa.
Người dì lại nói khẽ:
- Tội nghiệp Lottie!(tên tắt của Charlotte) Tội nghiệp cho cháu, mồ côi lúc mới mười hai tuổi đầu! Thôi! Cháu ạ, bá má cháu đã ngủ trong vòng tay của chúa, chúng ta phải nhớ điều đó, không được buồn.
Cô hơi co rúm người tránh cánh tay xương xẩu quàng quanh vai cô. Mẹ cô đã ngủ trong biển cả xanh lục lanh lẽo, cha cô và tất cả anh chị em cô đã bị vùi trong một con sóng thần đơn độc. Sao cô lại không buồn cho được? Và tất cả hành khách, thuyền trưởng Johannsen, người chủ tàu bạn cô, đều đã chết đuối.
Cô không trả lời. Xịch ra xa người dì, cô với tay lên giường lấy chiếc mũ rơm có ruy-băng đen đặt lên trên chiếc tủ com-mốt.
- Cháu à, tiếc là chiếc rốp của cháu màu nâu…nhưng tất nhiên là cháu không biết rằng cháu cần phải mặc rốp đen. Ờ, tạm thời cháu có thể mang trên tay ruy-băng đen bằng nhiễu. V ì tất nhiên là cháu không thể đi ra ngoài mà không để tang.
- Thưa dì, dì bảo chúng ta không được buồn mà?
Người dì nhìn cô với đôi mắt sắc lẹm:
- Cháu thích hỏi vặn lắm hả? Đối với người rất thần thì phải luôn luôn để tang. Chắc cháu biết rồi. Giờ đây, dì muốn hỏi cháu một chuyện.
Bà ta ngừng tiếng, nhìn cô dò xét.
- Ơ…chỉ có hai người, cháu và người…người thủy thủ sống sót khi tàu đắm. Theo thư của các ngân hàng cha cháu gửi tiền thì cháu và ông ta lang thang trên bở biển suốt hai ngày…Vậy…cháu và ông ta ngủ ở đâu?
- Ngủ trong một cái hang. Cái hang đó ở lưng chừng đường trên triền vách đá dựng…
- Ngủ trong cùng một cái hang à?
- Thưa, phải vậy thôi. Chỉ có một cái hang- Cô có vẻ khó chịu.
Cô không muốn người dì hỏi tiếp.
- Hừ…
Người dì đưa chổi quét trên chiếc tủ com-mốt sạch bóng như để quét bụi. Bà không nhìn cô, bà cẩn thận xem xét nóc tủ và nói:
- Người đàn ông đó có…cháu cứ nói thật với dì, đừng sợ- Ông ta…ông ta…có làm gì cháu không?
- Làm gì à? – cô nhắc lại không hiểu.
Rồi thấy bà lúng túng, cô thoáng hiểu. Cha cô là một bác sĩ có những tư tưởng tiên tiến trong việc giáo dục con gái, và cô cũng đã hiểu ít nhiều về sinh lý học.
- Thưa dì, bác Tom hết sức tử tế…Bác rất tốt với cháu, đàng hoàng lắm. Trông bác thì khiếp lắm, râu rậm và đen thui, hàm răng mất hết mấy cái, người thì xăm mình, v.v…Nhưng bác hiền như con chiên con. Nếu không nhờ bác, chắc cháu cũng chết rồi.
Môi cô lại run run, cô cắn chặt môi.
Bà Hester nhanh nhảu:
- Vậy dì hết lo rồi. Dì có thể bảo rằng cháu may mắn lắm mới gặp ông ta như thế. Một số người đàn ông thì…
- Bà tiếp, mặt sa sầm- Thôi, dì để cháu ngủ.
- Xin cảm ơn dì, chúc dì ngủ ngon.
Bà bước ra ngoài, cô ngồi trên giường, cảm tháy hết sức cô đơn và xa lạ. Giá mà ông anh họ Adam của cô có ở nhà. Giá mà chỉ một anh em trai hoặc một chị em gái của cô, chỉ một thôi, sống sót để cùng sống cuộc sống mới xa lạ này…Cô sẽ cố tỏ ra thật ngoan và làm cho dì thích mình. Và qua ông dượng, cô biết rằng cô đã có được một đồng minh.
lu khach- Kiếm Bạc
- Tổng số bài gửi: 540
Join date: 27/01/2010
Đến từ: Quỷ Môn Quan
Re: TẤT CẢ CÁC DÒNG SÔNG ĐỀU CHẢY - Nancy Cato
3
Xoảng!
- Philadelphia! Cháu vừa làm bể cái gì nữa đó!
- Thưa dì, chỉ là…chỉ là cái bát cũ màu vàng để khuấy bột thôi ạ!
Từ căn phòng đối diện phía trên, bà Hester tất tả chạy xuống, đôi mắt đen của bà nhìn vội qua, giận dữ.
- Cháu ạ, tuần này cháu đập bể cái thứ ba rồi đấy. Hết cái tách và cái đĩa tách trắng tốt, bây giờ lại đến cái tô quý của dì. Thật là…
- Cái thứ hai thôi, thưa dì. Đâu phải cái thứ ba.
- Tách nè, rồi đĩa tách nè, ròi bát khuấy bột nè. Tách và đĩa tách là hai cái. – Mắt bà nhìn người cháu chằm chằm, không nhất trí – Cái bát đó dì sắm lúc mới lấy dượng cháu.
- Cháu xin lỗi dì. Tay cháu ướt nên cái bát tuột khỏi tay chau.
- Thứ gì cũng “tuột khỏi tay” cháu cả. Chưa bao giờ dì thấy ai vụng về như cháu. Sau này, tốt hơn là đừng có rửa bát đĩa gì nữa. Cháu phụ dì chuyện bếp núc còn hơn.
Delie rất mừng. Cô không thích rửa bát đĩa; nấu nướng thì thích thú hơn. Dì cô nấu ăn giỏi lắm. Chỉ với thịt đông và ít rau cải cũng nấu được những món ăn ngon.
Một buổi tối, người dượng mang về cho cô mấy viên phấn xinh xinh, màu vàng, đỏ và cam. Những viên phấn này khá mềm, dùng để vẽ được, sau khi dọn xong bàn ăn, cô xin người dì một tờ giấy màu nâu rồi khởi sự vẽ; cô định vẽ cảnh một buổi hoàng hôn rực rỡ. Cô vẽ hết sức miệt mài. Dì dượng cô ngồi bên lò sưởi, căn phòng lặng lẽ nhưng vẫn ấm do hơi nóng từ lò sưởi tỏa ra. Tờ giấy không đủ lớn, cô lật ngược vẽ ở mặt bên. Thỉnh thoảng những viên phấn vẽ lố khỏi tờ giấy và gạch lên bàn. Trong một lúc, cô hết sức sung sướng.
Sáng hôm sau bà Hester tái mét khi trông thấy tình trạng khủng kiếp của cái bàn, màu trắng như tuyết vốn là niềm tự hào về nhà bếp của bà. Delie cúi đầu cạo cạo bôi bôi những vết màu, cô không hiểu được tại sao bà la lối om sòm như thế, nhưng cô cũng tức, dường như lúc nào cô cũng làm chuyện phiền hà dì cô.
*
Giữa học kỳ, Adam gửi thư về. Bức thư như sau:
“Mẹ thân yêu của con,
Con vẫn mạnh khỏe, việc học hành cũng như thường. Có một vài cơn mưa đá, và sáng sáng thì rất lạnh, nhưng không có tuyết. Ở nhà mình tuyết xuống nhiều chưa mẹ? Con có thể trông thấy những ngọn đồi trắng xóa và bóng mây quanh nhà mình, bà thí lấy sáp chà mấy tấm ván trượt tuyết. À này, má đừng để cho cô em họ mới đến của con dùng mấy tấm ván trượt tuyết của con nhé, chắc chắn cô ta sẽ làm hư thôi…”
- Nó viết thư hay quá, - bà Hester nói ngọt ngào, không nhận thấy cô cau mày khi bà đọc to đoạn đề cập không hay lắm đối với cô em họ mới tới.
Cô quyết định đi học lại; khi cô được hưởng của thừa kế, cô sẽ được độc lập, dù lúc ấy cô chưa tới tuổi thành niên. Chưa chi mà cô đã xây lâu đài trên cát. Cô hình dung biến mình thành một ngôi sao ở Sydney, làm lóa mắt mọi người vì những thành quả của mình; cô chưa quyết định mình sẽ là một diễn viên múa hay một kịch sĩ bi kịch, nhưng cô mất rất nhiều đẻ sửa bộ và xoay tròn trước tấm gương.
Cô thấy mình thật rõ trong những cảnh chói lọi đó ngay cả khi cô ì ạch trong tuyết để đổ xô thức ăn thừa…
Một hôm, bà Hester bảo chồng đi kiếm thêm củi. Định lần lữa sang lúc khác nhưng thấy bà vợ cằn nhằn, ông Charles đáp:
- Thôi được, để chiều tôi đi. Cháu Delie sẽ đi với tôi…(ông đã hẹn dẫn cô lên núi để tìm gỗ làm cho cô một cặp ván trượt tuyết).
Bà nói ngay:
- Delie ở nhà phụ bữa ăn với tôi.
Bà chú ý thấy ông Charles nhìn con bé khá thích thú- Tất nhiên hiện thời Delie chỉ là một đứa bé, nhưng cô sẽ rất đẹp nếu người đầy đặn ra, với nước da tai tái thanh thanh và đôi mắt sâu xanh lơ tương phản với mái tóc sậm màu. Lại còn đôi môi đầy đặn và có vẻ đam mề và đôi mày ngang đậm cứng cỏi, khiến ba khó chịu.
*
Sau mùa đông, Adam sẽ về trên chuyến xe lửa tốc hành đầu tiên.
Cô phụ bà Hester dọn căn phòng của cậu trai. Cửa phòng này đói diện với phòng khách từ hành lang trung tâm. Phía sau, cửa nhà bếp thông với căn phòng nhỏ của Delie và phòng tắm.
Cô đã mơ thấy cô đối xử một cách hiếu kỳ và khinh miệt người anh họ, trong lúc cậu ta lóa mắt vì sự thông minh và xinh đẹp của cô. Co đã hình dung rằng cậu là một bản in của bà Hester, trông hết sức tầm thường, mái tóc đen cứng còng, nước da hung hung đỏ, dáng người không dễ thương, giọng nói không hay.
Trước khi Adam về tới, bà Hester đã thuyết cho cô nghe rằng “bây giờ cô đã là một cô gái lớn rồi…”
- Và nhớ đấy, khi Adam về tới nhà thì khi đi tắm cháu không được thay đồ bên lò sưởi nữa.
- Thưa dì, vâng ạ.
- Không bao lâu nữa, cháu sẽ thành thiếu nữ, cháu hãy bỏ váy thòng xuống, cuốn tóc lên. Và cháu hãy nhớ là thiếu nữ thì phải đàng hoàng và khiêm tốn. Hôm nọ dì đã thấy cháu trèo lên cây thông, con gái không được tinh nghịch như thế.
- Nhưng ba cháu thường cho cháu trèo lên núi đá…
- Không nhưng nhị gì cả. Ở đây khác hẳn. Và còn điều nữa, cháu sẽ tới giai đoạn có thay đổi trong đời cháu, thay đổi trong…ơ…cơ thể cháu.
Tiếng cuối cùng được thốt với một sự cố gắng và sau đó là một tiếng khịt khịt. Delie kinh tởm khi thấy người dì lúng túng, cô cảm thấy toàn thân nóng bừng.
- Điều thay đổi này…cháu không có gì phải hoảng sợ, tới tuổi cháu, cô gái nào cũng phải trải qua.
- Thưa dì, phải dì định bảo cháu về kinh nguyệt không ạ?- Cô nói to và rõ, để cho người dì an tâm.
Bà Hester giật mình trông thấy.
- Phải đấy Philadelphia ạ! Đó không phải là điều…
Cô ung dung tiếp:
- Ồ, nhưng cháu biết hết về chuyện đó rồi. Ba cháu thường cho cháu mượn sách y học xem. Cháu có tìm hiểu về cơ thể học của phụ nữ, về tử cung, xương chậu, buồng trứng, mọi thứ. Này, ở nhà cháu có một con chó cái đẻ hoài, ba cháu đã mổ buồng trứng của nó và để cho cháu xem, và…
- Phi…Philadelphia! Cháu không bao giờ được kể cho dì nghe chuyện đó nữa!
- Nhưng thưa dì, tại sao vậy? Ba cháu nói rằng con gái mà biết sớm những gì sẽ xảy đến cho mình thì càng tốt. Ba cháu còn nói là nếu trời mà chơi khăm thì sẽ làm cho phụ nữ để trứng như gà vịt, chim chóc vậy…
- Đủ rồi, tiểu thư! Dì không muốn nghe những ý kiến báng bổ Trời Đất của ba cháu, và dì rất ngạc nhiên là má cô lại cho phép cô bàn bạc về những chuyện đó. Con gái mới mười hai tuổi đầu! Đời dì chưa bao giờ…!
Bà thôi nói, tựa hồ như không đủ lời lẽ diễn đạt, đôi má bà đỏ gay.
Cô bặm môi phản kháng. Cô đã nghĩ cha cô là người thông minh nhất trên đời, và mẹ cô cũng nghĩ thế, dù bà giả vờ phật ý vì những lời lẽ thẳng thừng của chồng.
Cuối cùng, đôi ván trượt tuyết cũng đã làm xong. Cô quét sàn nhà bếp, vắt hành, gọt khoai, củ cải, chùi mặt bàn rồi đi lên đồi Newchum với dượng để tập trượt ván.
Xoảng!
- Philadelphia! Cháu vừa làm bể cái gì nữa đó!
- Thưa dì, chỉ là…chỉ là cái bát cũ màu vàng để khuấy bột thôi ạ!
Từ căn phòng đối diện phía trên, bà Hester tất tả chạy xuống, đôi mắt đen của bà nhìn vội qua, giận dữ.
- Cháu ạ, tuần này cháu đập bể cái thứ ba rồi đấy. Hết cái tách và cái đĩa tách trắng tốt, bây giờ lại đến cái tô quý của dì. Thật là…
- Cái thứ hai thôi, thưa dì. Đâu phải cái thứ ba.
- Tách nè, rồi đĩa tách nè, ròi bát khuấy bột nè. Tách và đĩa tách là hai cái. – Mắt bà nhìn người cháu chằm chằm, không nhất trí – Cái bát đó dì sắm lúc mới lấy dượng cháu.
- Cháu xin lỗi dì. Tay cháu ướt nên cái bát tuột khỏi tay chau.
- Thứ gì cũng “tuột khỏi tay” cháu cả. Chưa bao giờ dì thấy ai vụng về như cháu. Sau này, tốt hơn là đừng có rửa bát đĩa gì nữa. Cháu phụ dì chuyện bếp núc còn hơn.
Delie rất mừng. Cô không thích rửa bát đĩa; nấu nướng thì thích thú hơn. Dì cô nấu ăn giỏi lắm. Chỉ với thịt đông và ít rau cải cũng nấu được những món ăn ngon.
Một buổi tối, người dượng mang về cho cô mấy viên phấn xinh xinh, màu vàng, đỏ và cam. Những viên phấn này khá mềm, dùng để vẽ được, sau khi dọn xong bàn ăn, cô xin người dì một tờ giấy màu nâu rồi khởi sự vẽ; cô định vẽ cảnh một buổi hoàng hôn rực rỡ. Cô vẽ hết sức miệt mài. Dì dượng cô ngồi bên lò sưởi, căn phòng lặng lẽ nhưng vẫn ấm do hơi nóng từ lò sưởi tỏa ra. Tờ giấy không đủ lớn, cô lật ngược vẽ ở mặt bên. Thỉnh thoảng những viên phấn vẽ lố khỏi tờ giấy và gạch lên bàn. Trong một lúc, cô hết sức sung sướng.
Sáng hôm sau bà Hester tái mét khi trông thấy tình trạng khủng kiếp của cái bàn, màu trắng như tuyết vốn là niềm tự hào về nhà bếp của bà. Delie cúi đầu cạo cạo bôi bôi những vết màu, cô không hiểu được tại sao bà la lối om sòm như thế, nhưng cô cũng tức, dường như lúc nào cô cũng làm chuyện phiền hà dì cô.
*
Giữa học kỳ, Adam gửi thư về. Bức thư như sau:
“Mẹ thân yêu của con,
Con vẫn mạnh khỏe, việc học hành cũng như thường. Có một vài cơn mưa đá, và sáng sáng thì rất lạnh, nhưng không có tuyết. Ở nhà mình tuyết xuống nhiều chưa mẹ? Con có thể trông thấy những ngọn đồi trắng xóa và bóng mây quanh nhà mình, bà thí lấy sáp chà mấy tấm ván trượt tuyết. À này, má đừng để cho cô em họ mới đến của con dùng mấy tấm ván trượt tuyết của con nhé, chắc chắn cô ta sẽ làm hư thôi…”
- Nó viết thư hay quá, - bà Hester nói ngọt ngào, không nhận thấy cô cau mày khi bà đọc to đoạn đề cập không hay lắm đối với cô em họ mới tới.
Cô quyết định đi học lại; khi cô được hưởng của thừa kế, cô sẽ được độc lập, dù lúc ấy cô chưa tới tuổi thành niên. Chưa chi mà cô đã xây lâu đài trên cát. Cô hình dung biến mình thành một ngôi sao ở Sydney, làm lóa mắt mọi người vì những thành quả của mình; cô chưa quyết định mình sẽ là một diễn viên múa hay một kịch sĩ bi kịch, nhưng cô mất rất nhiều đẻ sửa bộ và xoay tròn trước tấm gương.
Cô thấy mình thật rõ trong những cảnh chói lọi đó ngay cả khi cô ì ạch trong tuyết để đổ xô thức ăn thừa…
Một hôm, bà Hester bảo chồng đi kiếm thêm củi. Định lần lữa sang lúc khác nhưng thấy bà vợ cằn nhằn, ông Charles đáp:
- Thôi được, để chiều tôi đi. Cháu Delie sẽ đi với tôi…(ông đã hẹn dẫn cô lên núi để tìm gỗ làm cho cô một cặp ván trượt tuyết).
Bà nói ngay:
- Delie ở nhà phụ bữa ăn với tôi.
Bà chú ý thấy ông Charles nhìn con bé khá thích thú- Tất nhiên hiện thời Delie chỉ là một đứa bé, nhưng cô sẽ rất đẹp nếu người đầy đặn ra, với nước da tai tái thanh thanh và đôi mắt sâu xanh lơ tương phản với mái tóc sậm màu. Lại còn đôi môi đầy đặn và có vẻ đam mề và đôi mày ngang đậm cứng cỏi, khiến ba khó chịu.
*
Sau mùa đông, Adam sẽ về trên chuyến xe lửa tốc hành đầu tiên.
Cô phụ bà Hester dọn căn phòng của cậu trai. Cửa phòng này đói diện với phòng khách từ hành lang trung tâm. Phía sau, cửa nhà bếp thông với căn phòng nhỏ của Delie và phòng tắm.
Cô đã mơ thấy cô đối xử một cách hiếu kỳ và khinh miệt người anh họ, trong lúc cậu ta lóa mắt vì sự thông minh và xinh đẹp của cô. Co đã hình dung rằng cậu là một bản in của bà Hester, trông hết sức tầm thường, mái tóc đen cứng còng, nước da hung hung đỏ, dáng người không dễ thương, giọng nói không hay.
Trước khi Adam về tới, bà Hester đã thuyết cho cô nghe rằng “bây giờ cô đã là một cô gái lớn rồi…”
- Và nhớ đấy, khi Adam về tới nhà thì khi đi tắm cháu không được thay đồ bên lò sưởi nữa.
- Thưa dì, vâng ạ.
- Không bao lâu nữa, cháu sẽ thành thiếu nữ, cháu hãy bỏ váy thòng xuống, cuốn tóc lên. Và cháu hãy nhớ là thiếu nữ thì phải đàng hoàng và khiêm tốn. Hôm nọ dì đã thấy cháu trèo lên cây thông, con gái không được tinh nghịch như thế.
- Nhưng ba cháu thường cho cháu trèo lên núi đá…
- Không nhưng nhị gì cả. Ở đây khác hẳn. Và còn điều nữa, cháu sẽ tới giai đoạn có thay đổi trong đời cháu, thay đổi trong…ơ…cơ thể cháu.
Tiếng cuối cùng được thốt với một sự cố gắng và sau đó là một tiếng khịt khịt. Delie kinh tởm khi thấy người dì lúng túng, cô cảm thấy toàn thân nóng bừng.
- Điều thay đổi này…cháu không có gì phải hoảng sợ, tới tuổi cháu, cô gái nào cũng phải trải qua.
- Thưa dì, phải dì định bảo cháu về kinh nguyệt không ạ?- Cô nói to và rõ, để cho người dì an tâm.
Bà Hester giật mình trông thấy.
- Phải đấy Philadelphia ạ! Đó không phải là điều…
Cô ung dung tiếp:
- Ồ, nhưng cháu biết hết về chuyện đó rồi. Ba cháu thường cho cháu mượn sách y học xem. Cháu có tìm hiểu về cơ thể học của phụ nữ, về tử cung, xương chậu, buồng trứng, mọi thứ. Này, ở nhà cháu có một con chó cái đẻ hoài, ba cháu đã mổ buồng trứng của nó và để cho cháu xem, và…
- Phi…Philadelphia! Cháu không bao giờ được kể cho dì nghe chuyện đó nữa!
- Nhưng thưa dì, tại sao vậy? Ba cháu nói rằng con gái mà biết sớm những gì sẽ xảy đến cho mình thì càng tốt. Ba cháu còn nói là nếu trời mà chơi khăm thì sẽ làm cho phụ nữ để trứng như gà vịt, chim chóc vậy…
- Đủ rồi, tiểu thư! Dì không muốn nghe những ý kiến báng bổ Trời Đất của ba cháu, và dì rất ngạc nhiên là má cô lại cho phép cô bàn bạc về những chuyện đó. Con gái mới mười hai tuổi đầu! Đời dì chưa bao giờ…!
Bà thôi nói, tựa hồ như không đủ lời lẽ diễn đạt, đôi má bà đỏ gay.
Cô bặm môi phản kháng. Cô đã nghĩ cha cô là người thông minh nhất trên đời, và mẹ cô cũng nghĩ thế, dù bà giả vờ phật ý vì những lời lẽ thẳng thừng của chồng.
Cuối cùng, đôi ván trượt tuyết cũng đã làm xong. Cô quét sàn nhà bếp, vắt hành, gọt khoai, củ cải, chùi mặt bàn rồi đi lên đồi Newchum với dượng để tập trượt ván.
lu khach- Kiếm Bạc
- Tổng số bài gửi: 540
Join date: 27/01/2010
Đến từ: Quỷ Môn Quan
Re: TẤT CẢ CÁC DÒNG SÔNG ĐỀU CHẢY - Nancy Cato
4
Cả gia đình ngồi quanh bàn trong phòng khách. Ánh sáng trắng dịu của cái đèn dầu hỏa treo trên cao chiếu xuống chén đĩa bàng bạc và thủy tinh sáng loáng, xuống khăn trải bàn như tuyết.
Vui quá nên Delie ăn rất ít; cô không thể rời mắt khỏi Adam đang ngồi bên kia bàn, mái tóc sáng chiếu ngời ánh đèn. Cô vẫn băn khoăn là tại sao Adam không giống cha cũng không giống mẹ.
Cậu cao lớn, rắn rõi, nước da sạm màu sáng, trên đôi má nổi đường máu đỏ, đôi mắt nâu vàng, tóc nâu nhạt thẳng và dày, lòa xòa xuống vầng trán rộng.
Ánh mắt cậu sáng, vẻ khỏe mạnh, và cái miệng trẻ con của cậu trông tựa hồ như dễ dỗi mà cũng dễ cười to.
Giờ đây, cậu cười ha hả, trông cậu hết sức quyển rũ.
Cậu nói to:
- Ăn nữa đi em! Ăn thêm một cái bánh bao nữa đi! Em phải béo hơn một tí, phải không má?
- Delie mơ màng chìa cái đĩa tới, Adam khiến cô sợ hãi với cái nhìn dịu dàng, không chú ý, và với cái vẻ cậu hiểu cuộc sống trong gia đình xoay quanh cậu- như trong hai tuần lễ tới.
Chiều, cô đi với cậu ra chái nhà để ôm củi.
Cả hai vào nhà bếp, giậm chân cho tuyết rơi xuống. Adam khom người nhóm lửa.
- Má anh có nói chiếc tàu em đi bị đắm.
Cậu đập mạnh củi vào lò sưởi, cô nhận thấy hai tai cậu đỏ ửng. Cô biết rằng cậu muốn nói lên ý thiện cảm vè sự mất mát của gia đình cô. Tim cô đập nhanh, cô lại có cảm giác kinh hãi hệt như mỗi lần cô cảm thấy có người muốn xen vào nỗi đau buồn riêng tư của cô.
Cô cố trả lời:
- Phải, em là…người sống sót duy nhất cùng với một bác thủy thủ. Nhưng em không muốn nói vè chuyện đó…xin anh hiểu cho.
- Anh biết, cô bé ạ!
Giọng nói của cậu êm dịu đến nỗi cô không tin rằng đó là đứa con trai hư, kiêu ngạo mà cô đã quan sát lúc ngồi bên kia bàn ăn. Cô cảm thấy mến cậu trong khi cậu ôm số củi còn lại mang vào phòng khách.
Lúc ấy vào đầu mùa xuân, những cơn gió ấm và ánh nắng sáng sủa, tuyết từ từ tan chảy. Bà Hester cũng bớt gắt gỏng, bớt khó khăn, bớt đòi hỏi, bà cho phép Delie đi trượt tuyết chung với dượng Charles và Adam.
Mười ngày sau, Adam trở lại Sydney, ngôi nhà dường như ảm đạm hơn, lặng lẽ hơn. Cô và người dì ngồi bên ánh đèn, cả hai cảm thấy cô đơn nhưng ít đối kháng với nhau hơn.
Ông Charles đi suốt ngày, cố tìm những cục vàng lúc nào cũng ẩn mình trong mảng đất bồi kế cận. Đít quần ông vàng ệch đất sét, giày ống của ông cũng đóng đất sét dày cui.
Đôi khi, ông để cô cầm cái lọ đựng bụi vàng mà ông lóng được sau nhiều tháng làm việc, hoặc một cục vàng nhỏ xíu.
Trước khi mớ tuyết cuối cùng tan hết, ông dẫn cô lên những sườn đồi và chỉ những khe nhỏ bắt đầu chảy dưới những cầu tuyết trống rỗng.
Ông nói:
- Trên các ngọn núi, có hàng trăm khe như thế này, tất cả đều chảy xuống để đổ vào những sông suối to hơn như dòng Ovens và dòng Tumut, khối tuyết này nơi dượng cháu mình đang đứng sẽ chảy mãi tới dòng Murrumbidgee để đổ và sông Murray.
- Sông Murray à? – cô nhớ mang máng những bài học địa lý về đế quốc Anh- Sông lớn nhất nước Úc phải không dượng?
- Phải, sông to lắm, tàu hơi nước chạy được, ngay từ cửa sông ngược lên New South Wales. Dượng đã đi một lần rồi, từ đồi Swan đến Morgan và đặc biệt lắm… Cả dì cháu cũng thấy đủ ấm và có nắng nữa.
Hai dượng cháu liếc nhìn nhau, thở dài và nhìn ra những sườn đồi, mặt trời chiều đang biến tuyết thành màu vàng, với những đám mây tuyệt đẹp…
Vẫn còn nhiều ánh sáng ban ngày, nhưng Hester lại bịnh và bẳn tính nên họ không dám ở lại lâu hơn. Họ lặng lẽ quay về nhà.
5
Sau khi Delie được tuyên bố là người thừa kế tài sản nhỏ bé của cha cô, bà Hester đối xử tử tế hơn đối với đứa cháu gái, Biết đâu cô lại chẳng giúp gia đình bà đi khỏi nơi đáng sợ này và mua cho họ nhà cửa, đất đai ở một miền văn mình nào đó?
Bà chưa bao giờ nguôi ngoai cái cảm giác đau đớn bị bứt khỏi vùng nông thôn trù phú của nước Anh, nơi gia đình bà đã sống, khi bà gặp ông Charles lần đầu. Tính giang hồ thích nay đây, mai đó đã đưa ông tới nước Anh lúc còn thanh niên, đem ông trở lại Úc tìm sự nghiệp, và cuối cùng trôi dạt họ đến nơi xa xôi hẻo lánh này.
Cha bà là một nông trang viên khá giả. Charlotte, mẹ của Delie khá xinh đẹp, lúc nào cũng thích cắm hoa và khâu vá (và làm những việc này với khả năng của người nghệ sĩ) hơn là những nghề thực dụng như nghề làm sữa và chuyện bếp núc.
Của hồi môn của bà từ lâu dã bị tiêu dần trong những lần di chuyển từ nơi này đến nơi khác, và trong việc vực ông chồng ra khỏi những việc làm ăn liều lĩnh. Bà đã từ bỏ hẳn hy vọng tổng thấy người thanh niên cao lớn với bộ râu gây ấn tượng, từng theo đuổi bà và chiếm được trái tim bà, thành công trong đời. Tất cả hy vọng và tham vọng của bà giờ đây tập trung vào đứa con trai.
Có lẽ rốt cuộc thời vận của họ sẽ thay đổi. Ông charles đã tìm ra hai cục vàng nhỏ bị dòng nước suối đã khỏi lòng đất, và họ dự định tới lúc nghỉ hè sẽ đi Melbourne để Delie mua sắm y phục và đến ngân hàng cha cô đã gửi tiền để tới đây lập nghiệp.
*
Gần cuối tháng mười một, Melbourne đầy nắng và khá ấm. Họ đến trọ ở một khách sạn lớn gần một công viên, Adam sẽ từ Sydney tới đây liền sau khi hết học kỳ.
Tòa án chỉ định ông Charles làm giám hộ của Delie và quản lý số tiền của cô cho tới khi cô hai mươi tuổi. Khoảng thời gian đó, món tiền khoảng tám nghìn bảng Anh được để trong ngân hàng, lãi suất cũng đủ cho những nhu cầu của cô hiện nay.
Trong khi hai dì cháu vào các cửa hàng mua sắm thì ông Charles nghĩ cách đầu tư. Ông nghe giới thiệu về Echuca, một thị trấn ven biển trù phú, bãi biển dài chín mươi dặm với những cồn cát trắng, mỗi năm buôn bán tới hai triệu bảng. Thế là ông lên đường, không hỏi ý kiến vợ. Tuần sau, ông gửi thư báo là đã mua xong đất đai nhà cửa ở đấy.
Liền khi Adam tới Melbounre, bà Hester, Delie và cậu đáp xe lửa đi Echuca.
Cả gia đình ngồi quanh bàn trong phòng khách. Ánh sáng trắng dịu của cái đèn dầu hỏa treo trên cao chiếu xuống chén đĩa bàng bạc và thủy tinh sáng loáng, xuống khăn trải bàn như tuyết.
Vui quá nên Delie ăn rất ít; cô không thể rời mắt khỏi Adam đang ngồi bên kia bàn, mái tóc sáng chiếu ngời ánh đèn. Cô vẫn băn khoăn là tại sao Adam không giống cha cũng không giống mẹ.
Cậu cao lớn, rắn rõi, nước da sạm màu sáng, trên đôi má nổi đường máu đỏ, đôi mắt nâu vàng, tóc nâu nhạt thẳng và dày, lòa xòa xuống vầng trán rộng.
Ánh mắt cậu sáng, vẻ khỏe mạnh, và cái miệng trẻ con của cậu trông tựa hồ như dễ dỗi mà cũng dễ cười to.
Giờ đây, cậu cười ha hả, trông cậu hết sức quyển rũ.
Cậu nói to:
- Ăn nữa đi em! Ăn thêm một cái bánh bao nữa đi! Em phải béo hơn một tí, phải không má?
- Delie mơ màng chìa cái đĩa tới, Adam khiến cô sợ hãi với cái nhìn dịu dàng, không chú ý, và với cái vẻ cậu hiểu cuộc sống trong gia đình xoay quanh cậu- như trong hai tuần lễ tới.
Chiều, cô đi với cậu ra chái nhà để ôm củi.
Cả hai vào nhà bếp, giậm chân cho tuyết rơi xuống. Adam khom người nhóm lửa.
- Má anh có nói chiếc tàu em đi bị đắm.
Cậu đập mạnh củi vào lò sưởi, cô nhận thấy hai tai cậu đỏ ửng. Cô biết rằng cậu muốn nói lên ý thiện cảm vè sự mất mát của gia đình cô. Tim cô đập nhanh, cô lại có cảm giác kinh hãi hệt như mỗi lần cô cảm thấy có người muốn xen vào nỗi đau buồn riêng tư của cô.
Cô cố trả lời:
- Phải, em là…người sống sót duy nhất cùng với một bác thủy thủ. Nhưng em không muốn nói vè chuyện đó…xin anh hiểu cho.
- Anh biết, cô bé ạ!
Giọng nói của cậu êm dịu đến nỗi cô không tin rằng đó là đứa con trai hư, kiêu ngạo mà cô đã quan sát lúc ngồi bên kia bàn ăn. Cô cảm thấy mến cậu trong khi cậu ôm số củi còn lại mang vào phòng khách.
Lúc ấy vào đầu mùa xuân, những cơn gió ấm và ánh nắng sáng sủa, tuyết từ từ tan chảy. Bà Hester cũng bớt gắt gỏng, bớt khó khăn, bớt đòi hỏi, bà cho phép Delie đi trượt tuyết chung với dượng Charles và Adam.
Mười ngày sau, Adam trở lại Sydney, ngôi nhà dường như ảm đạm hơn, lặng lẽ hơn. Cô và người dì ngồi bên ánh đèn, cả hai cảm thấy cô đơn nhưng ít đối kháng với nhau hơn.
Ông Charles đi suốt ngày, cố tìm những cục vàng lúc nào cũng ẩn mình trong mảng đất bồi kế cận. Đít quần ông vàng ệch đất sét, giày ống của ông cũng đóng đất sét dày cui.
Đôi khi, ông để cô cầm cái lọ đựng bụi vàng mà ông lóng được sau nhiều tháng làm việc, hoặc một cục vàng nhỏ xíu.
Trước khi mớ tuyết cuối cùng tan hết, ông dẫn cô lên những sườn đồi và chỉ những khe nhỏ bắt đầu chảy dưới những cầu tuyết trống rỗng.
Ông nói:
- Trên các ngọn núi, có hàng trăm khe như thế này, tất cả đều chảy xuống để đổ vào những sông suối to hơn như dòng Ovens và dòng Tumut, khối tuyết này nơi dượng cháu mình đang đứng sẽ chảy mãi tới dòng Murrumbidgee để đổ và sông Murray.
- Sông Murray à? – cô nhớ mang máng những bài học địa lý về đế quốc Anh- Sông lớn nhất nước Úc phải không dượng?
- Phải, sông to lắm, tàu hơi nước chạy được, ngay từ cửa sông ngược lên New South Wales. Dượng đã đi một lần rồi, từ đồi Swan đến Morgan và đặc biệt lắm… Cả dì cháu cũng thấy đủ ấm và có nắng nữa.
Hai dượng cháu liếc nhìn nhau, thở dài và nhìn ra những sườn đồi, mặt trời chiều đang biến tuyết thành màu vàng, với những đám mây tuyệt đẹp…
Vẫn còn nhiều ánh sáng ban ngày, nhưng Hester lại bịnh và bẳn tính nên họ không dám ở lại lâu hơn. Họ lặng lẽ quay về nhà.
5
Sau khi Delie được tuyên bố là người thừa kế tài sản nhỏ bé của cha cô, bà Hester đối xử tử tế hơn đối với đứa cháu gái, Biết đâu cô lại chẳng giúp gia đình bà đi khỏi nơi đáng sợ này và mua cho họ nhà cửa, đất đai ở một miền văn mình nào đó?
Bà chưa bao giờ nguôi ngoai cái cảm giác đau đớn bị bứt khỏi vùng nông thôn trù phú của nước Anh, nơi gia đình bà đã sống, khi bà gặp ông Charles lần đầu. Tính giang hồ thích nay đây, mai đó đã đưa ông tới nước Anh lúc còn thanh niên, đem ông trở lại Úc tìm sự nghiệp, và cuối cùng trôi dạt họ đến nơi xa xôi hẻo lánh này.
Cha bà là một nông trang viên khá giả. Charlotte, mẹ của Delie khá xinh đẹp, lúc nào cũng thích cắm hoa và khâu vá (và làm những việc này với khả năng của người nghệ sĩ) hơn là những nghề thực dụng như nghề làm sữa và chuyện bếp núc.
Của hồi môn của bà từ lâu dã bị tiêu dần trong những lần di chuyển từ nơi này đến nơi khác, và trong việc vực ông chồng ra khỏi những việc làm ăn liều lĩnh. Bà đã từ bỏ hẳn hy vọng tổng thấy người thanh niên cao lớn với bộ râu gây ấn tượng, từng theo đuổi bà và chiếm được trái tim bà, thành công trong đời. Tất cả hy vọng và tham vọng của bà giờ đây tập trung vào đứa con trai.
Có lẽ rốt cuộc thời vận của họ sẽ thay đổi. Ông charles đã tìm ra hai cục vàng nhỏ bị dòng nước suối đã khỏi lòng đất, và họ dự định tới lúc nghỉ hè sẽ đi Melbourne để Delie mua sắm y phục và đến ngân hàng cha cô đã gửi tiền để tới đây lập nghiệp.
*
Gần cuối tháng mười một, Melbourne đầy nắng và khá ấm. Họ đến trọ ở một khách sạn lớn gần một công viên, Adam sẽ từ Sydney tới đây liền sau khi hết học kỳ.
Tòa án chỉ định ông Charles làm giám hộ của Delie và quản lý số tiền của cô cho tới khi cô hai mươi tuổi. Khoảng thời gian đó, món tiền khoảng tám nghìn bảng Anh được để trong ngân hàng, lãi suất cũng đủ cho những nhu cầu của cô hiện nay.
Trong khi hai dì cháu vào các cửa hàng mua sắm thì ông Charles nghĩ cách đầu tư. Ông nghe giới thiệu về Echuca, một thị trấn ven biển trù phú, bãi biển dài chín mươi dặm với những cồn cát trắng, mỗi năm buôn bán tới hai triệu bảng. Thế là ông lên đường, không hỏi ý kiến vợ. Tuần sau, ông gửi thư báo là đã mua xong đất đai nhà cửa ở đấy.
Liền khi Adam tới Melbounre, bà Hester, Delie và cậu đáp xe lửa đi Echuca.
lu khach- Kiếm Bạc
- Tổng số bài gửi: 540
Join date: 27/01/2010
Đến từ: Quỷ Môn Quan
Re: TẤT CẢ CÁC DÒNG SÔNG ĐỀU CHẢY - Nancy Cato
Tất cả các dòng sông đều chảy - All the rivers run
Tác giả: Nancy Cato
Người dịch : Trương Võ Anh Giang và Anh Trần
Tập Một
Một Dòng Sông Chưa Bị Chế Ngự
Tác giả: Nancy Cato
Người dịch : Trương Võ Anh Giang và Anh Trần
Tập Một
Một Dòng Sông Chưa Bị Chế Ngự
6
Tới Echuca, họ trọ ở khách sạn Palace; trong khi bà Hester nằm nghỉ, hai anh em đi xem cảnh vật. Thị trấn này nhộn nhịp, ồn ào, phố nào cũng có trồng bạch đàn và có các tháp nhà thờ hình chóp, và hầu như ở góc đường nào cũng có khách sạn.
Họ đi học theo các bờ sông và về phía cầu sắt to đến New South Wales. Cô nhảy múa qua các bụi cây thấp hình dáng trắng bé nhỏ của cô tung tăng dưới những thân cây khổng lồ, khi trong ánh nắng và bóng mát lốm đốm trên chiếc rốp trắng nhẹ và mái tóc sậm màu của cô.
Cô nhìn dòng nước lướt đi, nghĩ đến những con sông nhỏ dưới lớp tuyết chảy trong vùng núi tại chỗ cô đã ra đi. Ngày hè chói chang nóng bức này, nước ở đây có lạnh không? Cô muốn cởi tất cả ra để lội ở mé sông, nhưng Adam vẫn rảo bước không dừng lại.
Cô nhắm mắt, hít thở mùi ngan ngát của bụi bạch đàn sum suê, hăng hăng và âm ấm. Ngoài kia, một bầy chim duyên dáng đang nối nhau bơi lội. Chúng màu đen, cổ dài và mỏ màu đỏ sáng.
- Có phải chúng thật là thiên nga không?
Cô kêu lên, cô nghĩ xứ này thật kỳ lạ, tháng sáu mà có tuyết, cây cối thì không bao giờ trụi lá vào mùa đông hoặc xanh lục vào mùa hè, nhưng lúc nào cũng xám xanh hoặc nâu vàng, đôi khi màu hoa cà, còn thân cây thì xanh hơn lá.
Cả hai trở về, bị bà Hester càu nhàu suốt năm phút.
Từ khu đất mới mua, ông Charles đến thị trấn rất muộn nên nhỡ chuyến xe lửa bèn vội vã đến khách sạn gặp vợ.
Sáng hôm sau, họ lên đường về nhà mới trên cơ sở mọi thứ đều được chuyển cho chủ mới, cho tới những con dao xếp, nĩa và bàn là. Cả những người đầy tớ cũng ở lại- Một người làm công việc lặt vặt biết mổ heo, chải lông cừu, làm vườn, chăn nuôi gà vịt, một người chăn nuôi súc vật và hai người phụ nữ da đen lo việc bếp núc cùng gia đình họ.
Trước mặt họ, ngay sát khúc quanh của dòng sông và khá cao lên trên mực nước cũ, là trại ấp với những căn nhà làm bằng gỗ cứng, mái lợp ván, tòa nhà chính đối diện với con sông.
Hiên có bóng mát mọc đầy nhài trắng, lấm tấm nụ hoa và ngát hương. Một làn khói bay lên bầu không khí tĩnh mịch từ một ống khói của một ngôi nhà bên ngoài ở phía sau. Bà Hester ngồi thẳng lên, nhìn đăm đăm, quên hết cả đau đớn, khuôn mặt của bà trông dịu dàng như lúc bà mừng đón Adam trở về nhà.
Khi họ đến cửa sau, một chiếc rốp màu thoáng qua sau bể nước và có tiếng cười khúc khích nhưng không ai đi tới. bà Hester đòi đi xem nhà bếp trước tiên. Nhà bếp cất riêng ra ở phía sau, rộng và thoáng, sàn nhà bằng đá rải cát.
Delie chọn phòng mình bên trái ngôi nhà, bờ sông ở xeo xéo, bên ngoài cửa số có khung kính là một cây bạch đàn nhựa đang nở hoa. Bà Hester ở phòng ngủ phía trước.
Có ai nắm cánh tay cô, âm ấm.
- Đi xem vườn đi, em Delie. – Adam nói.
Trong đôi mắt cậu biểu lộ mối thiện cảm lặng lẽ.
Bà Hester trở lại nhà bếp, tập hợp mấy người làm đang rúc rích phía sau bể nước, bảo họ rằng bà muốn giữ gìn nhà bếp như thế nào. Mặc dù họ có đôi mắt đen hiền dịu và hàm răng thật trắng, bà Hester cũng cho rằng họ vừa xấu xí vừa thiếu đạo đức, trong những chiếc rốp vải cũn cỡn để thòi cặp chân rong khi họ lúng túng kéo lê những ngón chân trên sàn nhà đầy cát.
Cô bé nhất, Minna không lớn tuổi hơn Delie bao nhiêu.
Bên ngoài, Delie và Adam đi xem tất cả ngôi nhà phụ, rồi chạy vòng ra vườn hoa phía trước.
Cô và Adam nhìn xuống dòng sông, bờ sông có nhiều chớn nước. Con sông cong cong về phía trái lại khuất ở một khúc quanh nữa bên phải, lượn lờ chảy không một làn sóng gợn và rát trong đến nỗi thấy tận đáy sâu.
Bà Hester đã cho chở đến ngôi nhà mới nhiều thứ, những chiếc thìa xúp bạc vốn là của bà ngoại Delie giờ đây đã mòn và mỏng lét, mép thìa sắc một cách nguy hiểm, chum nước đỏ, một cái chụp đèn sơn bằng thủy tinh- Cũng như nhiều món đồ không giá trị khác như bưu ảnh cũ, bưu thiếp, thư từ và cái rưng đầu tiên của Adam.
Khi phụ dọn đồ, cô làm bể cái chụp đèn nên bà mắng cô vụng về và bảo cô đi ngủ.
Cô quét sơ căn phòng của mình, rồi cầm nến đi xem nhà dưới trước khi thay quần áo. Cô bước qua ngôi nhà nhỏ có bìm bìm bao phủ, và đẩy cánh cửa gỗ. Qua ánh nến, cô trông thấy có mạng nhện trong một góc. Hàng trăm con muỗi bay vo ve.
Cô bước ra ngoài, tắt nến, chờ cho mắt mình quen với bóng tối.
Đêm lặng lẽ, ấm dịu. Bầu trời lấp lánh ánh sao nên không hoàn toàn tối hẳn. Dải ngân hà chạy dài, sáng nhạt.
Cởi giày và tất, cô dặt bên cạnh chân nến ở bậc thềm phía sau, và quay lại bước xuống sông. Đất vẫn toát hơi nóng của ban ngày, cô cảm tháy đất như sống động dưới đôi chân trần của cô. Cây nhài trắng với những đóa hoa chập chờn như những ánh sao mờ nhạt, tỏa hương ngào ngạt trong không khí.
Lúc bờ sông trải rộng trước mặt cô, dường như cô có thể thấy rõ hơn ánh sáng từ mặt sông hắt lên. Cô thận trọng leo xuống nước. Nước mượt mà, mát rượi quanh mắt cá chân cô, cát thì chắc và không có cỏ dại. Nước gợn lăn tăn, một ánh sao run run phản chiếu và vỡ ra như những mảnh kim cương.
Những cây bạch đàn bên bờ song đối diện làm thành một bức tường đen, không phân biệt được với bờ sông rắn chắc. Dòng sông chảy giữa hai bàn chân cô và màu đen đó với những ngôi sao như những viên đá quý trên bờ ngực láng mướt của phụ nữ. Quả quyết, không dứt, từ cội nguồn xa xôi, dòng sông chảy về biển cả xa lạ. Lần đầu tiên, cô cảm thấy sự tuôn chảy vô tận của nó thật hết sức kỳ diệu.
Dòng sông vẫn rất lặng lẽ. Thế rồi có một âm thanh không nghe rõ được, từ trên không và từ bầu trời sâu thẳm vọng xuống.
Cô cố mở mắt nhìn lên trên và cảm thấy hơn là trông thấy, cảm giác hơn là nghe thấy, những ánh ao mờ nhạt và tiếng những đôi cánh lớn vỗ nhanh…Những con thiên nga đen! Những con thiên nga đen, chúng đang bay đến một vũng nước ẩn khuất, bí mật nào đó.
Khi tiếng kỳ lạ từ những ánh sao rơi xuống đó tắt đi, cô vãn còn đứng sững như một thân cây bên bờ sông.
Cô nghĩ: “Ngày nào còn sống, ngày đó mình còn nhớ đêm nay. Cho đến già mình vẫn còn nhớ đêm nay.”
7
Cuối năm, trời nóng dữ dội. Ngôi nhà trở nên quá nóng đến nỗi bà Hester bắt khiêng bàn ra ăn trưa dưới một dàn nho.
Giờ đây, cô hợp ý hơn với dì, cô không cảm thấy công việc bếp núc là khó chịu nữa.
Trong người co xảy ra sự biến đổi như dì cô đã từng bảo…
Một hôm, sau bữa ăn trưa, Adam và cô than thẩn xuống sông, cả hai nằm trên đám bạc hà rừng xanh lục.
Những tiếng cười khúc khích và tiếng nói chuyện liếng láu khuấy động sự yên tĩnh của họ. Rửa bát đĩa xong chị em Lucy và Minna xuống sông nô đùa…Những cánh tay đen sạm lấp lóa trong nắng, rong khi Minna bơi sang bờ cát đối diện và bước ra khỏi nước, chiếc rốp vàng bỏ lại sau. Cô ngồi lên nhìn chằm chằm, cảm thấy các ngón tay ngứa ngáy, cô ước ao có bút chì để ghi hình dáng tuyệt vời ấy lên giấy; bước đi duyên dáng tự nhiên, lưng thẳng, bộ ngực săn chắc và hai bên hong thanh mảnh, cao cao, tất cả rạng lên sức sống.
Cô rất muốn học bơi và cảm thấy không cần phải xin phép dì; thật ngốc nghếch biết bao nếu là con gái mà không biết bơi, không trèo cây, không cưỡi ngựa hoặc không làm một cái gì thích thú! Giờ đây Adam được mười lăm tuổi, cao thẳng, cường tráng, khá đẹp trai. Và lúc nào cậu cũng thắng cô, hoặc chạy, hoặc nhảy, chơi bắn đá cuội. Gần đây, cậu có thói quen đi dạo một mình bên dòng sông vào ban tối, khi mà ráng trời nhuộm mặt sông trầm lặng bằng những sắc đỏ sáng rực giữa màu xanh lơ và màu xanh lục nhạt. Cô không bao giờ biết cậu dang nghĩ gì trong khi cậu đứng trầm mặc bên bờ sông. Cô biết tôn trọng những tình cảm lặng lẽ và cô đơn của cậu.
Những lần cậu đứng dưới giàn hoa nhài thơm ngát ở hàng hiên, nhìn đăm đăm vào đêm tối, mẹ cậu thường bảo ra bảo cậu vào, cậu liền giận dữ bảo bà hãy để mặc cậu.
Adam không bao giờ chỉ trích mẹ, nhưng cái nhìn của cậu, cái siết vào khuỷu tay cô, cách cậu chạm bàn chân lên bàn chân cô dưới bàn, cho cô biết khi nào cậu không đồng ý với những phán đoán hẹp hòi của bà.
Nhân dịp dượng Charles ra thị trấn, cô đề nghị ông đăng quảng cáo tìm người đến giúp cô trong việc học hành mà cô đã xao lãng từ lâu, có thể cô và Adam sẽ cùng có một cô giáo dạy kèm cũng được.
Bà Hester lên tiếng phản đối. Ông Charles mềm mỏng nói:
- Bà không thể cản cháu, vì chính cháu tự chi lấy. Tôi cũng vui vì Adam sẽ được học thêm. Lúc nào nó cũng dán mũi vào sách vở.
Đôi môi Adam cong lên. Rất ít khi người cha dễ tính của cậu chỉ trích cậu, còn đối với mẹ cậu thì lúc nào cậu cũng tuyệt vời.
- Cảm ơn ba, nhưng trong cuộc sống không phải chỉ có tắm lợn, tắm cừu. Nếu con không thể học đại học, du lịch hoặc làm tất cả những gì con thích, tại sao con lại không đọc sách báo chứ? Ba thì tự do đi đó đi đây, đội mũ rộng trông hệt nhà nông, nhưng ba bỏ phế công việc cho bác Lige giúp việc. Nếu cô giáo giỏi thì con không ngại học. Nhưng có thể cô ta không dạy con tát cả những thứ con không học ở nhà trường.
Cha cậu vụt đổi sắc và bảo:
- Ăn nói hỗn láo như vậy, sau này sẽ hư đấy. Và con cần hiểu rằng thật ra con chỉ biết rất ít về cuộc sống hoặc bất cứ thứ gì khác. Này, ba hỏi con, con muốn tự lập như thế nào? Bởi vì bà không muốn để con ở không.
Adam đáp khẽ:
- Con muốn thành nhà văn.
thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?t=7070
Được sửa bởi lu khach ngày Fri Apr 30, 2010 4:56 pm; sửa lần 1.
lu khach- Kiếm Bạc
- Tổng số bài gửi: 540
Join date: 27/01/2010
Đến từ: Quỷ Môn Quan
Re: TẤT CẢ CÁC DÒNG SÔNG ĐỀU CHẢY - Nancy Cato
8
Đã có tin từ Melbourne về mẩu “Tìm người” đăng trong tờ “Tin tức dòng sông”. Một cô giáo tên Barrett gửi thư cho biết là không bao lâu nữa cô sẽ tới Echuca để trực tiếp gặp họ.
Nước sông xuống thấp, hai ông bà liền giao nhà cho bác Lige trông nom và cả gia đình ra thị trấn gặp cô Barrett.
Cô Dorothy Barrett đã đến Echuca, ngụ tại khách sạn Palace. Cô có học vị tiến sĩ. Cô sắp xếp gặp bà Hester Jamieson tại phòng khách của khách sạn vào mười một giờ trưa.
Trước giờ hẹn năm phút, bà Hester ngồi chờ cô.
Có tiếng chân như tiếng chân đàn ông bước ngoài cửa rồi có tiếng nói trầm:
- Xin lỗi vì đã để bà chờ đợi.
Liền đó, một thiếu phụ cao ráo bước vào phòng. Cô ta chìa ra mọt bàn tay to, hồng hồng, ngón tay cắt giũa rất đẹp.
Bà Hester nheo mắt, chụp bàn tay.
- Cô…ơ…cô là Barrett à?
- Thưa vâng – Thiếu phụ đáp (cô ta không trẻ lắm, bà Hester đoán chắc cô ba mươi tuổi) rồi nắm mạnh một chiếc ghế kéo về phía mình và ngồi xuống.
- Cô ta đặt đôi giày gót bằng trên nền nhà một cách chắc chắn. Chiếc áo trắng của cô ta, cổ cao và tay áo chật, không chê vào đâu được, cũng như chiếc váy vải sọc xanh dài, chiếc mũ rơm chụp lên mái tóc quăn nâu nhạt. Nhưng kiểu bắt tay như thế không phải là kiểu của phụ nữ.
- Thưa, bà là Jamieson? Tôi đã nhận được thư bà trả lời đơn xin việc của tôi; theo thư, bà có một cô gái mười ba tuổi và một cậu trai mười lăm tuổi. Đối với cô giáo dạy tư gia, tuổi cậu như thế là khá lớn. Ồ…tôi có mang theo các giấy tờ giới thiệu và chứng nhận. Trước nay, tôi dạy trong một trường tư dành cho nữ sinh ở Melbourne, bà sẽ xem đủ giấy tờ…Nhưng gặp con gái riết rồi cũng chán.
Cô ta cười rất duyên dáng, một nếp nhăn hiện lên quanh đôi mắt xám trong sáng. Bà Hester mỉm cười đáp lễ rồi nói khá xẵng:
- Tôi không có kinh nghiệm nhiều với các cô gái. Cháu gái tôi là Philadelphia sống với tôi chưa đầy một năm, và tôi chỉ có một đứa con trai tên Adam. – Giọng bà dụ hơn – Adam là một thừng bé thông minh, nó đi học ở Sydney, gần đây mới nghỉ. Theo tôi nó khỏi cần đến trường học thêm chữ nghĩa gì, nhưng tôi muốn cô dạy nó thành người đàng hoàng, và bồi dưỡng tài năng viết lách của nó vì nó muốn sống với nghề viết văn. Nó muốn tiếp tục lên đại học, ba nó lại không đồng ý.
Cô Barrett bàn với bà Hester về các môn Adam cần học, rồi tiếp:
- Bây giờ, về cô gái, tôi nghĩ chúng ta có thể để cô chọn những môn nào thuộc năng khiếu thiên phú của cô, dù tất nhiên cả hai học cùng môn với nhau thì đơn giản hơn.
- Cháu rất muốn học họa. Cháu không thích toán.
Buổi nói chuyện kết thúc, cô Barrett chuẩn bị từ giã để về Melbourne lấy đồ đạc và sách vở…
9
Cuối tháng ba, ông Charles đánh xe ra thị trấn rước cô Barrett về.
Delie ngồi trong phòng học, đôi mắt ngơ ngác, tai lắng nghe tiếng nói sâu lắng, trầm tĩnh của cô Barrett. Cô rất thích cô giáo. Thế giới của cô có một trung tâm mới.
Cô rất ham học, cô làm cả những bài có trình độ cao hơn dành cho Adam.
Cô học tiếng La-tinh, học đàn piano, học cả bơi lội.
Cô Barrett bơi giỏi, không bao lâu đã thuyết phục được bà Hester để cho Delie học bơi. Một thời gian sau, cô đã bơi được sang bên kia sông, ngày đầu tiên thì cô Barrett bơi kèm. Rồi khi nước sông dâng lên cao, vào các buổi sáng lạnh hơn, cô Barrett dạy Adam và Delie chèo thuyền.
Một buổi sáng, họ nghe thấy tiếng một con tàu bèn chạy ra xem. Con tàu có dắt theo hai chiếc sà-lan, một chiếc mắc cạn trên cát. Thấy vậy cô giáo bàn với cả hai đem xuồng ra xem có thể giúp được gì không.
Thuyền trưởng nhờ họ mang dây chão quấn quanh một thân cây trên bờ làm trụ, con tàu chạy tới để kéo sà-lan xuống nước, nhưng cuối cùng sợi dây tuột ra. Đang ở trên xuồng. Delie và cô Barrett chuồi người nằm sát xuống. Trong khi đó, lưng Adam quay về phía nguy hiểm nên không cử động được nhanh. Sợi dây chão căng thẳng vào mũi xuồng, quất trúng vai Adam hất cậu ra khỏi chiếc xuồng.
Adam bị dòng nước cuốn đi, cậu ngóc lên nhưng chạm phải chiếc xuồng. Lần thứ hai ngóc lên cậu lại gặp tình huống tương tự, cuối cùng, khi cậu xuất hiện, cô Barrett kéo cậu lên xuồng. Cậu đã ngất đi, suýt chết đuối. Họ mang cậu lên bờ. Cậu nôn thốc nôn tháo.
Cô ngồi nhìn mái đầu ướt của Adam đặt lên vai cô, đôi mắt nhắm nghiền và y phục ướt sũng của cậu; cô hết sức xúc động.
Cô Barrett mím môi, lẩm bẩm:
- Làm thế nào tôi có thể kể cho mẹ cậu biết đây? Đáng lẽ tôi phải thấy trước sự nguy hiểm này…
Nhưng lúc họ lên bờ, Adam đã lại sức, cậu đi về nhà được, và dù bà Hester lầu bầu như một con gà mái bị quấy rối, bà cũng không biết thảm kịch đã xảy ra như thế nào.
10
Những ngọn cỏ hè xanh mướt, trắng bệch vì hơi nóng, chói sáng dưới ánh trăng như những cánh đồng tuyết. Chúng dần dần trở nên xám và già, như một bộ lông thú bờm xờm. Những cơn mưa đầu thu rơi xuống, và dưới màn xám cỏ non mềm mại lại xuất hiện.
Đó là thời gian cừu đẻ con, ông Charles hải ra những bãi cỏ nuôi cừu đến nữa đêm vì có chồn và quạ gần đó.
Dù cẩn thận như thế, cũng mất hết mấy con cừu, cho nên phải mang mấy con cừu con vào nhà bếp, đặt bên cạnh lò sưởi ấm áp. Delie phụ đưa chai sữa cho cừu con bú, và sau đó dạy chúng thọc mồm vào xô mà uống.
Rồi mùa đông đến với sương giá lạnh cắt da cắt thịt, đến nỗi sáng sáng nhà bếp rộng ấm áp chật người là nơi vui vẻ nhất. Lửa đỏ nhảy múa trong lò sưởi, nắp ấm nhảy tưng bừng vui vẻ.
Delie thêm vào phòng trưng bày tranh của mình bức hình phác họa Minna (cô muốn bảo cô ta ngồi mẫu khỏa thân) và một bức phác họa khác về cụ láng giềng Sarah, nhưng phần lớn là các tranh vẽ cô Barrett, cô dã lén phác họa cô giáo nhiều lần, cái thì trông nghiêng, cái thì nhìn trước mặt, cái thì nhìn phía sau, với một vài sợi tóc quăn từ búi tóc xổ ra.
Cô Barrett nhận thấy rằng công việc giảng dạy của cô ngày càng tệ hơn, và cô rùng mình, đỏ mặt khi nói tới chuyện đó. Vì Delie cũng bắt đầu mơ mộng và thiếu tập trung như Adam, chỉ có những bài học về hội họa và vẽ khiến cô chú ý thôi.
Đã có tin từ Melbourne về mẩu “Tìm người” đăng trong tờ “Tin tức dòng sông”. Một cô giáo tên Barrett gửi thư cho biết là không bao lâu nữa cô sẽ tới Echuca để trực tiếp gặp họ.
Nước sông xuống thấp, hai ông bà liền giao nhà cho bác Lige trông nom và cả gia đình ra thị trấn gặp cô Barrett.
Cô Dorothy Barrett đã đến Echuca, ngụ tại khách sạn Palace. Cô có học vị tiến sĩ. Cô sắp xếp gặp bà Hester Jamieson tại phòng khách của khách sạn vào mười một giờ trưa.
Trước giờ hẹn năm phút, bà Hester ngồi chờ cô.
Có tiếng chân như tiếng chân đàn ông bước ngoài cửa rồi có tiếng nói trầm:
- Xin lỗi vì đã để bà chờ đợi.
Liền đó, một thiếu phụ cao ráo bước vào phòng. Cô ta chìa ra mọt bàn tay to, hồng hồng, ngón tay cắt giũa rất đẹp.
Bà Hester nheo mắt, chụp bàn tay.
- Cô…ơ…cô là Barrett à?
- Thưa vâng – Thiếu phụ đáp (cô ta không trẻ lắm, bà Hester đoán chắc cô ba mươi tuổi) rồi nắm mạnh một chiếc ghế kéo về phía mình và ngồi xuống.
- Cô ta đặt đôi giày gót bằng trên nền nhà một cách chắc chắn. Chiếc áo trắng của cô ta, cổ cao và tay áo chật, không chê vào đâu được, cũng như chiếc váy vải sọc xanh dài, chiếc mũ rơm chụp lên mái tóc quăn nâu nhạt. Nhưng kiểu bắt tay như thế không phải là kiểu của phụ nữ.
- Thưa, bà là Jamieson? Tôi đã nhận được thư bà trả lời đơn xin việc của tôi; theo thư, bà có một cô gái mười ba tuổi và một cậu trai mười lăm tuổi. Đối với cô giáo dạy tư gia, tuổi cậu như thế là khá lớn. Ồ…tôi có mang theo các giấy tờ giới thiệu và chứng nhận. Trước nay, tôi dạy trong một trường tư dành cho nữ sinh ở Melbourne, bà sẽ xem đủ giấy tờ…Nhưng gặp con gái riết rồi cũng chán.
Cô ta cười rất duyên dáng, một nếp nhăn hiện lên quanh đôi mắt xám trong sáng. Bà Hester mỉm cười đáp lễ rồi nói khá xẵng:
- Tôi không có kinh nghiệm nhiều với các cô gái. Cháu gái tôi là Philadelphia sống với tôi chưa đầy một năm, và tôi chỉ có một đứa con trai tên Adam. – Giọng bà dụ hơn – Adam là một thừng bé thông minh, nó đi học ở Sydney, gần đây mới nghỉ. Theo tôi nó khỏi cần đến trường học thêm chữ nghĩa gì, nhưng tôi muốn cô dạy nó thành người đàng hoàng, và bồi dưỡng tài năng viết lách của nó vì nó muốn sống với nghề viết văn. Nó muốn tiếp tục lên đại học, ba nó lại không đồng ý.
Cô Barrett bàn với bà Hester về các môn Adam cần học, rồi tiếp:
- Bây giờ, về cô gái, tôi nghĩ chúng ta có thể để cô chọn những môn nào thuộc năng khiếu thiên phú của cô, dù tất nhiên cả hai học cùng môn với nhau thì đơn giản hơn.
- Cháu rất muốn học họa. Cháu không thích toán.
Buổi nói chuyện kết thúc, cô Barrett chuẩn bị từ giã để về Melbourne lấy đồ đạc và sách vở…
9
Cuối tháng ba, ông Charles đánh xe ra thị trấn rước cô Barrett về.
Delie ngồi trong phòng học, đôi mắt ngơ ngác, tai lắng nghe tiếng nói sâu lắng, trầm tĩnh của cô Barrett. Cô rất thích cô giáo. Thế giới của cô có một trung tâm mới.
Cô rất ham học, cô làm cả những bài có trình độ cao hơn dành cho Adam.
Cô học tiếng La-tinh, học đàn piano, học cả bơi lội.
Cô Barrett bơi giỏi, không bao lâu đã thuyết phục được bà Hester để cho Delie học bơi. Một thời gian sau, cô đã bơi được sang bên kia sông, ngày đầu tiên thì cô Barrett bơi kèm. Rồi khi nước sông dâng lên cao, vào các buổi sáng lạnh hơn, cô Barrett dạy Adam và Delie chèo thuyền.
Một buổi sáng, họ nghe thấy tiếng một con tàu bèn chạy ra xem. Con tàu có dắt theo hai chiếc sà-lan, một chiếc mắc cạn trên cát. Thấy vậy cô giáo bàn với cả hai đem xuồng ra xem có thể giúp được gì không.
Thuyền trưởng nhờ họ mang dây chão quấn quanh một thân cây trên bờ làm trụ, con tàu chạy tới để kéo sà-lan xuống nước, nhưng cuối cùng sợi dây tuột ra. Đang ở trên xuồng. Delie và cô Barrett chuồi người nằm sát xuống. Trong khi đó, lưng Adam quay về phía nguy hiểm nên không cử động được nhanh. Sợi dây chão căng thẳng vào mũi xuồng, quất trúng vai Adam hất cậu ra khỏi chiếc xuồng.
Adam bị dòng nước cuốn đi, cậu ngóc lên nhưng chạm phải chiếc xuồng. Lần thứ hai ngóc lên cậu lại gặp tình huống tương tự, cuối cùng, khi cậu xuất hiện, cô Barrett kéo cậu lên xuồng. Cậu đã ngất đi, suýt chết đuối. Họ mang cậu lên bờ. Cậu nôn thốc nôn tháo.
Cô ngồi nhìn mái đầu ướt của Adam đặt lên vai cô, đôi mắt nhắm nghiền và y phục ướt sũng của cậu; cô hết sức xúc động.
Cô Barrett mím môi, lẩm bẩm:
- Làm thế nào tôi có thể kể cho mẹ cậu biết đây? Đáng lẽ tôi phải thấy trước sự nguy hiểm này…
Nhưng lúc họ lên bờ, Adam đã lại sức, cậu đi về nhà được, và dù bà Hester lầu bầu như một con gà mái bị quấy rối, bà cũng không biết thảm kịch đã xảy ra như thế nào.
10
Những ngọn cỏ hè xanh mướt, trắng bệch vì hơi nóng, chói sáng dưới ánh trăng như những cánh đồng tuyết. Chúng dần dần trở nên xám và già, như một bộ lông thú bờm xờm. Những cơn mưa đầu thu rơi xuống, và dưới màn xám cỏ non mềm mại lại xuất hiện.
Đó là thời gian cừu đẻ con, ông Charles hải ra những bãi cỏ nuôi cừu đến nữa đêm vì có chồn và quạ gần đó.
Dù cẩn thận như thế, cũng mất hết mấy con cừu, cho nên phải mang mấy con cừu con vào nhà bếp, đặt bên cạnh lò sưởi ấm áp. Delie phụ đưa chai sữa cho cừu con bú, và sau đó dạy chúng thọc mồm vào xô mà uống.
Rồi mùa đông đến với sương giá lạnh cắt da cắt thịt, đến nỗi sáng sáng nhà bếp rộng ấm áp chật người là nơi vui vẻ nhất. Lửa đỏ nhảy múa trong lò sưởi, nắp ấm nhảy tưng bừng vui vẻ.
Delie thêm vào phòng trưng bày tranh của mình bức hình phác họa Minna (cô muốn bảo cô ta ngồi mẫu khỏa thân) và một bức phác họa khác về cụ láng giềng Sarah, nhưng phần lớn là các tranh vẽ cô Barrett, cô dã lén phác họa cô giáo nhiều lần, cái thì trông nghiêng, cái thì nhìn trước mặt, cái thì nhìn phía sau, với một vài sợi tóc quăn từ búi tóc xổ ra.
Cô Barrett nhận thấy rằng công việc giảng dạy của cô ngày càng tệ hơn, và cô rùng mình, đỏ mặt khi nói tới chuyện đó. Vì Delie cũng bắt đầu mơ mộng và thiếu tập trung như Adam, chỉ có những bài học về hội họa và vẽ khiến cô chú ý thôi.
lu khach- Kiếm Bạc
- Tổng số bài gửi: 540
Join date: 27/01/2010
Đến từ: Quỷ Môn Quan
Re: TẤT CẢ CÁC DÒNG SÔNG ĐỀU CHẢY - Nancy Cato
11
Adam đứng lên khỏi bàn ăn sáng, buồn bã nhìn những tấm màn vải lông xanh lục, mấy ngón tay không yên cứ vặn vẹo một cục tua vàng. Những đám mây xám từ hướng nam bay lên trời, trên các bụi cây trong vườn, các cây tiêu, các cây chanh có màu xanh sậm, báo hiệu sẽ có mưa. Cô Barrett đến phía sau cậu, nhẹ nhàng kéo cục tua bị xoắn. Cô ta chạm vào cậu, cậu đỏ bừng mặt, rút vội tay và nói với Delie:
- Trước giờ học, mình xuống sông đi, em Del. – Cậu vặn cái nơ đen ở phía sau mái tóc dài của cô. – Anh phải giăng lưới sẵn để bắt cá thu.
Delie nhìn người dì xin phép. Bà Hester gật đầu. Cô Barrett vào góc phòng tìm vài quyển sách; khi còn lại một mình với ông Charles, bà Hester nhìn chồng đầy hàm ý.
Bà dịu dàng nói:
- Ông có nghĩ là thằng Adam nghiêm túc không?
Ông Charles có vẻ bối rối:
- Nghiêm túc à? Bà muốn nói gì thế? Tôi muốn thằng bé quan tâm tới công việc trang trại, để tôi có thể để lại sản nghiệp cho nó sau này. Nó không chịu phụ tôi làm cỏ khô, bảo rằng lúa mì làm nó bị sốt, bây giờ ngay lúc mình cần nó phụ coi đàn cừu thì nó cũng không làm, viện lý do mùi cừu làm nó khó chịu!
- Nó phải học hành…
- Ừ, bà cứ bào chữa cho nó Bà sẽ làm hỏng nó; ngày nào đó bà sẽ ân hận. Nó biết lúc nào bà cũng bênh nó chằm chặp và nó cứ nguầy nguậy không chịu vâng lời tôi. Kiểu đó tới chừng hai mươi tuổi nó sẽ lông bông không ra tích sự gì hết cho bà coi.
- Ông nói làm tôi nhức đầu thêm. Tôi định nói chuyện này, ông ghe giùm chút…Theo ông, nó và con Philadelphia có xứng đôi không? Chuyện này tự nhiên thôi vì hai đứa cùng trưởng thành chung với nhau. Với số tiền của con bé, nó sẽ mua nhà mua đất, sẽ thành một nông trang viên quý phái, nếu muốn thì nó cứ ở Melbourne, còn ở đây thì thuê người làm quản lý. Tất nhiên là sau khi ông và tôi nhắm mắt. Con bé có mười hai nghìn bảng, số tiền này sẽ sinh sôi nảy nở thêm lúc đó nó được hai mươi mốt tuổi.
Ông Charles nhìn bà ta chằm chằm. Ông chưa bao giờ có ý nghĩ đó.
- Nhưng…nhưng hiện chúng còn con nít mà. Và tôi không biết anh em họ mà cưới nhau, người ta có đàm tiếu gì không. Tôi nghĩ con bé như là em gái của nó.
Nhưng bà Hester mĩm cười, nghĩ rằng bà ta khôn ngoan hơn ông.
*
Mỗi lần có thư từ mới, ông Charles lại buồn bã hơn. Ông thường ngồi đó; trước mặt là những số báo trong tuần của tờ báo ở Echuca – tờ “Tin tức dòng sông”. Lần nào nhìn qua vai ông, Delie cũng thấy nghiên cứu một đề tài tựa là KHỦNG HOẢNG KINH TẾ.
Một hôm cô đọc những dòng sau:
“Không đầy một tháng, sáu ngân hàng lớn mà người ta cho rằng ù khách hàng đổ xô đến rút tiền đông bao nhiêu cũng vững như bàn thạch, đã tạm ngưng công việc. Tuy nhiên, vẫn không có sự sợ hãi thông thường nào cả. Chính phủ đã phải dùng đến biện pháp mạnh là đống cửa tất cả các ngân hàng trong năm ngày để những người quản lý có thời gian để thở”.
Cô hỏi:
- Thưa dượng, như vậy có nghĩa là khi cần dượng cũng không thể rút tiền khỏi ngân hàng, phải không?
- Đúng thế, cháu ạ. Nếu họ không làm vậy, chẳng mấy chốc sẽ không còn tiền trong ngân hàng nữa.
12
Một tối nọ, sau khi những người da đen trong nhà đi săn, bà Hester quyết định làm một bữa ăn thịnh soạn. Bắt đầu bữa ăn là món xà lách tôm lạnh.
Adam nói:
- Không, con không ăn tôm.
- Còn cháu Delie thì sao?
- Cháu cũng không ăn. Cháu ngán tôm lắm.
Ông Charles nhìn nhanh cả hai, nói mau:
- Tôi cũng không ăn. Bà có món gì khác không?
Bà Hester liền nổi cáu. Tuy nhiên, bà bấm chuông bảo đem một món khác.
Bella mang ra một con chim lớn, nâu vàng và lộng lẫy, xế đầy cái đĩa gỗ đẹp nhất. Ông Charles ngây người nhìn, Delie nhìn chỗ ức cong cong, miệng cô khô khốc.
- Thưa dì, cháu không ăn. Cháu chỉ ăn rau thôi.
- Sao lại không ăn? – Người dì rít lên, cứng rắn – Thịt rô-ti ngon mà không ăn. Ông, ông đưa cho nó một miếng ở ức và cánh.
- Không! – Delie trả lời mạnh mẽ. Gương mặt cô đỏ bừng. – Cháu không ăn thiên nga đen.
Adam nãy giờ nhìn cô ngạc nhiên, giờ đây nhìn dăm đăm món thịt rô-ti.
Ngon lắm…chính dì nấu đấy, vừa chín tới thôi.
Adam lại ngồi phịch xuống ghế:
- Con cũng không ăn.
Bà Hester giận dữ hét:
- Vậy thì cả hai đứa ra khỏi bàn ngay! Chúng bây cứ đi ngủ, không ăn uống gì cả. Đi ngay…
Cả hai đi về phía phòng mình, không nói lời nào.
Delie dang nằm trên giường xem cuốn niên lịch thì có tiếng gõ cửa nhẹ bên ngoài, cô Barrett lách vào phòng. Cô ta quay lại khép cửa, chiếc váy len của cô ta quét trên tấm vải sơn lót sàn bóng lưỡng. Cô ta ngồi xuống mép giường, lấy trong chiếc túi rộng một miếng bánh mì bơ và một cái bánh ngọt.
- Này, em phải ăn chút gì vào bụng mới dễ ngủ.
Trong khi Delie ăn nhỏ nhẻ, rất sung sướng vì có thần tượng của cô ngồi trên giường, cô Barrett hỏi:
- Nào, em nói cho cô biết tại sao em không chịu ăn thịt rô-ti?
Delie nhìn xuống, mặt đỏ bừng nhưng không trả lời.
- Có lẽ cô hiểu. Vì thiên nga vố đẹp, thiên nga bay được và dường như ăn thiên nga là phạm thánh, đại loại như thế phải không em?
Delie bướng bỉnh nhìn chiếc váy của cô Barrett, cô nhai bánh ngọt nhưng cảm thấy vô vị, không đời nào cô nói cảm giác của cô đối với thiên nga.
- Ồ, cô hiểu. Nhưng khi em lớn như cô em sẽ ít lý tưởng hơn…- Cô ta đứng lên- Thôi, cô cũng phải mang cho Adam món gì ăn chứ. Cậu ta làm thế để ủng hộ em hay là tự ý cậu ta?
Cô lúng túng:
- Cả hai lý do.
- Thôi, chúc em ngủ ngon.
Cô ta đưa những ngón tay dài, mát rượi của mình sờ nhẹ lên mặt cô. Cô rúc vào giường.
Cô vừa buồn ngủ thì cánh cửa lại mở, một tiếng nói khẽ vang lên:
- Cháu ngủ chưa?
Cô ngồi lên:
- Thưa dì, chưa.
Người dì bước nhanh qua phòng, trên tay cầm một cái tách.
- Này! Dì mang cho cháu ca-cao nóng và mấy cái bánh quy bơ. Dì mang cho Adam rồi, và dì cũng mang cho cháu.
Cô hớp từng ngụm ca-cao nóng, ngọt ngào. Ngon thật, cô cảm thấy như chưa bao giờ uống ngon thế.
- Cảm ơn dì, dì tốt với cháu quá, - Cô nói, lần đầu tiên cô cảm thấy ân hận. – Cháu không ăn, anh Adam cũng không ăn theo, cháu có lỗi. Đáng lẽ dì không mang thức ăn cho cháu.
- Dì mang thức ăn cho nó thì phải mang cho cháu mới công bằng.
Bà Hester lấy lại tách và đĩa, một cái hôn nhẹ lướt trên trán cô. Ngạc nhiên, cô nằm xuống, trong người thấy ấm áp nhưng không phải chỉ ấm vì cốc ca-cao nóng.
Bấy giờ, đã cuối xuân, đang mùa nước dâng.
Delie và Adam thường ra hiên nhìn. Trước hết là cây cối sáng lên gần khúc quanh thấp; những cái đèn khí đá quay tròn trông như một cái quạt đầy ánh sáng tới khi cây cối có vẻ sáng chói. Thế rồi, cửa sổ trong các phòng chói sáng, những tia lửa bay khỏi ống khói, con tàu ngược dòng, vẽ một màn đen phía sau, để lại một cảm giác nôn nao trong hai tấm lòng trẻ trung.
Càng cuối xuân, đêm càng dịu hơn. Cô càng cảm thấy nôn nao. Những con dế gáy re re trong cát, cây pittosporum trổ hoa làm không khí tràn ngập mùi hương như cam.
Một con chim ác là thao thức cất tiếng kêu du dương, một con chim chìa vôi lặp lại các nốt nhạc trong khu vườn ngập ánh trăng, khiến cô không ngủ được. Tiếng hót của nó như một thác nước bằng thủy tinh, vở ra, réo rắt, trong trẻo.
Vào một đêm trăng tròn, khi cô nằm lắng nghe tiếng dế gáy nỉ non trầm lặng, đều đều thì tất cả hoang tưởng của cô cũng mất vẻ viễn mơ. Dường như những con dế này đang nói điều gì đấy…một điều gì đấy, không kể thời gian và rất quan trọng, điều mà lúc nào cô cũng sắp hiểu.
Cuối cùng, cô tung chăn bước lại cửa sổ. Bên trên là phong cảnh thần kỳ của ánh trăng và bóng đêm. Cô có thể trông thấy cái thân bóng mượt của cây bạch đàn đã trổ hoa, lá lấp lánh như kim loại láng bóng. Cô liền trèo qua cửa sổ.
Hai bàn chân cô trần trụi, đất cát có cảm giác mát mẻ và mơn man mềm mại. Cô hoàn toàn ấm áp trong chiếc áo ngủ dài tay. Cô đánh bạo bước xuống phía nhà khuất trong tối, đi qua mái hiên trước lốm đốm hoa nhài trắng, và bước vào một vùng ánh sáng rực rỡ, trong trẻo. Trời không một áng mây. Qua những thân cây, cô có thể trông thấy dòng sông tràn ngập đến bờ với cuộc sống thần kỳ của chính nó. Chầm chậm, không kể thời gian, những con dế gáy ra rả. Cô cảm thấy cuộc sống tràn ngập trong người cô, đang tìm những lối thoát mới.
Adam đứng lên khỏi bàn ăn sáng, buồn bã nhìn những tấm màn vải lông xanh lục, mấy ngón tay không yên cứ vặn vẹo một cục tua vàng. Những đám mây xám từ hướng nam bay lên trời, trên các bụi cây trong vườn, các cây tiêu, các cây chanh có màu xanh sậm, báo hiệu sẽ có mưa. Cô Barrett đến phía sau cậu, nhẹ nhàng kéo cục tua bị xoắn. Cô ta chạm vào cậu, cậu đỏ bừng mặt, rút vội tay và nói với Delie:
- Trước giờ học, mình xuống sông đi, em Del. – Cậu vặn cái nơ đen ở phía sau mái tóc dài của cô. – Anh phải giăng lưới sẵn để bắt cá thu.
Delie nhìn người dì xin phép. Bà Hester gật đầu. Cô Barrett vào góc phòng tìm vài quyển sách; khi còn lại một mình với ông Charles, bà Hester nhìn chồng đầy hàm ý.
Bà dịu dàng nói:
- Ông có nghĩ là thằng Adam nghiêm túc không?
Ông Charles có vẻ bối rối:
- Nghiêm túc à? Bà muốn nói gì thế? Tôi muốn thằng bé quan tâm tới công việc trang trại, để tôi có thể để lại sản nghiệp cho nó sau này. Nó không chịu phụ tôi làm cỏ khô, bảo rằng lúa mì làm nó bị sốt, bây giờ ngay lúc mình cần nó phụ coi đàn cừu thì nó cũng không làm, viện lý do mùi cừu làm nó khó chịu!
- Nó phải học hành…
- Ừ, bà cứ bào chữa cho nó Bà sẽ làm hỏng nó; ngày nào đó bà sẽ ân hận. Nó biết lúc nào bà cũng bênh nó chằm chặp và nó cứ nguầy nguậy không chịu vâng lời tôi. Kiểu đó tới chừng hai mươi tuổi nó sẽ lông bông không ra tích sự gì hết cho bà coi.
- Ông nói làm tôi nhức đầu thêm. Tôi định nói chuyện này, ông ghe giùm chút…Theo ông, nó và con Philadelphia có xứng đôi không? Chuyện này tự nhiên thôi vì hai đứa cùng trưởng thành chung với nhau. Với số tiền của con bé, nó sẽ mua nhà mua đất, sẽ thành một nông trang viên quý phái, nếu muốn thì nó cứ ở Melbourne, còn ở đây thì thuê người làm quản lý. Tất nhiên là sau khi ông và tôi nhắm mắt. Con bé có mười hai nghìn bảng, số tiền này sẽ sinh sôi nảy nở thêm lúc đó nó được hai mươi mốt tuổi.
Ông Charles nhìn bà ta chằm chằm. Ông chưa bao giờ có ý nghĩ đó.
- Nhưng…nhưng hiện chúng còn con nít mà. Và tôi không biết anh em họ mà cưới nhau, người ta có đàm tiếu gì không. Tôi nghĩ con bé như là em gái của nó.
Nhưng bà Hester mĩm cười, nghĩ rằng bà ta khôn ngoan hơn ông.
*
Mỗi lần có thư từ mới, ông Charles lại buồn bã hơn. Ông thường ngồi đó; trước mặt là những số báo trong tuần của tờ báo ở Echuca – tờ “Tin tức dòng sông”. Lần nào nhìn qua vai ông, Delie cũng thấy nghiên cứu một đề tài tựa là KHỦNG HOẢNG KINH TẾ.
Một hôm cô đọc những dòng sau:
“Không đầy một tháng, sáu ngân hàng lớn mà người ta cho rằng ù khách hàng đổ xô đến rút tiền đông bao nhiêu cũng vững như bàn thạch, đã tạm ngưng công việc. Tuy nhiên, vẫn không có sự sợ hãi thông thường nào cả. Chính phủ đã phải dùng đến biện pháp mạnh là đống cửa tất cả các ngân hàng trong năm ngày để những người quản lý có thời gian để thở”.
Cô hỏi:
- Thưa dượng, như vậy có nghĩa là khi cần dượng cũng không thể rút tiền khỏi ngân hàng, phải không?
- Đúng thế, cháu ạ. Nếu họ không làm vậy, chẳng mấy chốc sẽ không còn tiền trong ngân hàng nữa.
12
Một tối nọ, sau khi những người da đen trong nhà đi săn, bà Hester quyết định làm một bữa ăn thịnh soạn. Bắt đầu bữa ăn là món xà lách tôm lạnh.
Adam nói:
- Không, con không ăn tôm.
- Còn cháu Delie thì sao?
- Cháu cũng không ăn. Cháu ngán tôm lắm.
Ông Charles nhìn nhanh cả hai, nói mau:
- Tôi cũng không ăn. Bà có món gì khác không?
Bà Hester liền nổi cáu. Tuy nhiên, bà bấm chuông bảo đem một món khác.
Bella mang ra một con chim lớn, nâu vàng và lộng lẫy, xế đầy cái đĩa gỗ đẹp nhất. Ông Charles ngây người nhìn, Delie nhìn chỗ ức cong cong, miệng cô khô khốc.
- Thưa dì, cháu không ăn. Cháu chỉ ăn rau thôi.
- Sao lại không ăn? – Người dì rít lên, cứng rắn – Thịt rô-ti ngon mà không ăn. Ông, ông đưa cho nó một miếng ở ức và cánh.
- Không! – Delie trả lời mạnh mẽ. Gương mặt cô đỏ bừng. – Cháu không ăn thiên nga đen.
Adam nãy giờ nhìn cô ngạc nhiên, giờ đây nhìn dăm đăm món thịt rô-ti.
Ngon lắm…chính dì nấu đấy, vừa chín tới thôi.
Adam lại ngồi phịch xuống ghế:
- Con cũng không ăn.
Bà Hester giận dữ hét:
- Vậy thì cả hai đứa ra khỏi bàn ngay! Chúng bây cứ đi ngủ, không ăn uống gì cả. Đi ngay…
Cả hai đi về phía phòng mình, không nói lời nào.
Delie dang nằm trên giường xem cuốn niên lịch thì có tiếng gõ cửa nhẹ bên ngoài, cô Barrett lách vào phòng. Cô ta quay lại khép cửa, chiếc váy len của cô ta quét trên tấm vải sơn lót sàn bóng lưỡng. Cô ta ngồi xuống mép giường, lấy trong chiếc túi rộng một miếng bánh mì bơ và một cái bánh ngọt.
- Này, em phải ăn chút gì vào bụng mới dễ ngủ.
Trong khi Delie ăn nhỏ nhẻ, rất sung sướng vì có thần tượng của cô ngồi trên giường, cô Barrett hỏi:
- Nào, em nói cho cô biết tại sao em không chịu ăn thịt rô-ti?
Delie nhìn xuống, mặt đỏ bừng nhưng không trả lời.
- Có lẽ cô hiểu. Vì thiên nga vố đẹp, thiên nga bay được và dường như ăn thiên nga là phạm thánh, đại loại như thế phải không em?
Delie bướng bỉnh nhìn chiếc váy của cô Barrett, cô nhai bánh ngọt nhưng cảm thấy vô vị, không đời nào cô nói cảm giác của cô đối với thiên nga.
- Ồ, cô hiểu. Nhưng khi em lớn như cô em sẽ ít lý tưởng hơn…- Cô ta đứng lên- Thôi, cô cũng phải mang cho Adam món gì ăn chứ. Cậu ta làm thế để ủng hộ em hay là tự ý cậu ta?
Cô lúng túng:
- Cả hai lý do.
- Thôi, chúc em ngủ ngon.
Cô ta đưa những ngón tay dài, mát rượi của mình sờ nhẹ lên mặt cô. Cô rúc vào giường.
Cô vừa buồn ngủ thì cánh cửa lại mở, một tiếng nói khẽ vang lên:
- Cháu ngủ chưa?
Cô ngồi lên:
- Thưa dì, chưa.
Người dì bước nhanh qua phòng, trên tay cầm một cái tách.
- Này! Dì mang cho cháu ca-cao nóng và mấy cái bánh quy bơ. Dì mang cho Adam rồi, và dì cũng mang cho cháu.
Cô hớp từng ngụm ca-cao nóng, ngọt ngào. Ngon thật, cô cảm thấy như chưa bao giờ uống ngon thế.
- Cảm ơn dì, dì tốt với cháu quá, - Cô nói, lần đầu tiên cô cảm thấy ân hận. – Cháu không ăn, anh Adam cũng không ăn theo, cháu có lỗi. Đáng lẽ dì không mang thức ăn cho cháu.
- Dì mang thức ăn cho nó thì phải mang cho cháu mới công bằng.
Bà Hester lấy lại tách và đĩa, một cái hôn nhẹ lướt trên trán cô. Ngạc nhiên, cô nằm xuống, trong người thấy ấm áp nhưng không phải chỉ ấm vì cốc ca-cao nóng.
Bấy giờ, đã cuối xuân, đang mùa nước dâng.
Delie và Adam thường ra hiên nhìn. Trước hết là cây cối sáng lên gần khúc quanh thấp; những cái đèn khí đá quay tròn trông như một cái quạt đầy ánh sáng tới khi cây cối có vẻ sáng chói. Thế rồi, cửa sổ trong các phòng chói sáng, những tia lửa bay khỏi ống khói, con tàu ngược dòng, vẽ một màn đen phía sau, để lại một cảm giác nôn nao trong hai tấm lòng trẻ trung.
Càng cuối xuân, đêm càng dịu hơn. Cô càng cảm thấy nôn nao. Những con dế gáy re re trong cát, cây pittosporum trổ hoa làm không khí tràn ngập mùi hương như cam.
Một con chim ác là thao thức cất tiếng kêu du dương, một con chim chìa vôi lặp lại các nốt nhạc trong khu vườn ngập ánh trăng, khiến cô không ngủ được. Tiếng hót của nó như một thác nước bằng thủy tinh, vở ra, réo rắt, trong trẻo.
Vào một đêm trăng tròn, khi cô nằm lắng nghe tiếng dế gáy nỉ non trầm lặng, đều đều thì tất cả hoang tưởng của cô cũng mất vẻ viễn mơ. Dường như những con dế này đang nói điều gì đấy…một điều gì đấy, không kể thời gian và rất quan trọng, điều mà lúc nào cô cũng sắp hiểu.
Cuối cùng, cô tung chăn bước lại cửa sổ. Bên trên là phong cảnh thần kỳ của ánh trăng và bóng đêm. Cô có thể trông thấy cái thân bóng mượt của cây bạch đàn đã trổ hoa, lá lấp lánh như kim loại láng bóng. Cô liền trèo qua cửa sổ.
Hai bàn chân cô trần trụi, đất cát có cảm giác mát mẻ và mơn man mềm mại. Cô hoàn toàn ấm áp trong chiếc áo ngủ dài tay. Cô đánh bạo bước xuống phía nhà khuất trong tối, đi qua mái hiên trước lốm đốm hoa nhài trắng, và bước vào một vùng ánh sáng rực rỡ, trong trẻo. Trời không một áng mây. Qua những thân cây, cô có thể trông thấy dòng sông tràn ngập đến bờ với cuộc sống thần kỳ của chính nó. Chầm chậm, không kể thời gian, những con dế gáy ra rả. Cô cảm thấy cuộc sống tràn ngập trong người cô, đang tìm những lối thoát mới.
lu khach- Kiếm Bạc
- Tổng số bài gửi: 540
Join date: 27/01/2010
Đến từ: Quỷ Môn Quan
Re: TẤT CẢ CÁC DÒNG SÔNG ĐỀU CHẢY - Nancy Cato
13
Một hôm, ông Charles nhận được thư và gọi Delie vào phòng khách. Những tờ báo trải trước mặt ông. Ông vuốt ria mép, vẻ lo lắng. Ông không nói được gì nhiều: có một cái gì đó về sự suy sụp sau khi giá cả đất đai tăng vọt…thị trường ế ẩm…nổi kinh hoàng…
Người ta đổ xô đến ngân hàng để rút tiền, và các ngân hàng ở Melbourne đã đóng cửa. Ông Charles chỉ một cái tít: CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ECHUCA NGƯNG PHÁT TIỀN.
Cô kêu lên:
- Nhưng cháu cứ ngỡ rằng bỏ tiền vào ngân hàng là an toàn!
- Ai cũng ngỡ như thế. Mình phải đi Echuca xem sự thể thế nào, có tệ hại lắm không.
Vả lại, họ cũng phải đi Echuca tìm người mới thay thế cho Minna đang mang thai. Ông đánh xe đưa họ đi vòng theo con đường dài, qua các đồi cát…Ông và bà Hester không nói gì với nhau.
Cô vẫn chưa nhận thức dược thảm họa đối với tài sản của cô. Cô ngồi trên chiếc xe độc mã với Adam. Còn bà Hester đi kiếm sở lao động, và ông đi vào cửa hông một ngân hàng tìm ông giám đốc, khi ông bước ra, mặt ông trở nên trang nghiêm. Ông vỗ vỗ bàn tay của cô.
- Cháu à, điều tệ hại nhất đã xảy ra. Tiền bạc của cháu đi đứt cả rồi, hoặc gần như thế.
Cô ngồi nhìn chằm chằm ánh nắng chiếu trên cặp mông bóng lưỡng của con ngựa thiến nâu, đám ruồi nhỏ đen đang bu trên mọt đống phân vàng ngoài đường. Những năm sau đó, cô có thể nhớ lại đống phân vang, bầu trời xanh, phối cảnh của phố Hare với những dãy cửa hiệu, và cả tiếng nói của người dượng: “Tiền bạc của cháu đi đứt cả rồi”. Lúc ấy, dường như tất cả điều đó là không có thực. Cô đã được nghe rằng cố có tiền trong ngân hàng, giờ đây cô lại được nghe là không có tiền gì cả - hoặc đúng hơn, là có không hơn năm mươi bàng. Cô đã bắt đầu nhận ra rồi đây sẽ khác khi bà Hester nghe thấy chuyện này, dù những lời đầu tiên của bà là:
- Tất nhiên là không có gì khác đâu cháu.
Cô im lặng, ngạc nhiên.
- Cháu là con của em dì, và dì dượng muốn cưu mang cháu. Nhưng dì không biết tính sao về cô giáo.
Ông Charles lên tiếng:
- Đúng vậy, nhưng bà để thủng thẳng xem sao.
- Không thủng thẳng gì cả, ngay bây giờ mình cũng có thể bàn công chuyện được; tôi không biết làm thế nào mình có thể trả tiền cho cô Barrett. Còn phần ông cũng phải mất thêm tiền. Tôi đã thuê được Annie, một cô gái rất tốt; chuyện Annie không bàn cãi lôi thôi gì nữa, chiều nay, cô ta sẽ đến. Phải tính chuyện lương hướng, ăn ở của cô ta.
Ông quay sang đứa cháu:
- Thực ra dượng rất may mắn vì đã bỏ tất cả vốn liếng vào tài sản của mình và mua con cừu đực đó. Và dượng chưa bán mớ lông cừu. Dượng rất ân hận, cháu Delie ạ, dượng đã không bảo cháu bỏ vốn vào nông trại ấy, coi vậy lại khá hơn nhiều…
Giờ đây, cô mới nhận thức được đầy đủ ý nghĩa của việc tiền bạc tiêu tan. Bà Hester sẽ càu nhàu cho tới khi cô Barrett đi; và khi cô Barrett đi rồi, những bài học về họa của cô sẽ không còn và cô sẽ không thể đi Echuca hoặc Melbourne để theo học trường nghệ thuật như cô từng mơ ước.
Khi nghe chuyện, cô Barrett liền đề nghị là khỏi phải trả lương trong lúc cô còn ở lại, bởi vì cô thích cô học trò của cô và thích cuộc sống trên sông nước. Cô nói rằng Delie có tài và sau này sẽ học một ông thầy khác, nhưng hiện nay cô sẽ dạy Delie môn họa và vẽ.
Cô nói rằng cô sẽ đăng quảng cáo tìm một chỗ làm khác, cho tới sau lễ Giáng sinh – và có thể phải chờ đến năm sáu tháng để có một chỗ làm thích hợp.
*
Để khỏi nghe giọng nói của bà Hester (dường như lúc nào cũng cáu gắt với cô), Delie trèo lên ngọn cây bách vàng hực ngoài vườn trước. Nằm tựa vào những cành thơm mùa xuân trong khi ánh nắng chiếu vào tay chân mình, cô cảm thấy yên tĩnh.
Trong khi cô ngồi cùng Adam trông ra khúc quanh ngoài xa của dòng sông, nghe tiếng bà Hester ngoài hiên gọi vang, cô bảo:
- Từ khi em hết tiền, dường như má anh không thích em nữa.
Adam cảm thấy khó chịu:
- Anh chắc là không có gì thay đổi. Em chỉ tưởng tượng thôi.
- Nhưng lúc nào dì cũng muốn em làm công chuyện dù chuyện đó chị Annie làm rất tốt. Dường như dì không muốn em ở gần anh.
- Nhảm! Anh không tin.
Nhưng đó là sự thực. Lúc nào ông Charles và Adam định đi Echuca, dì cô cũng bảo cô ở nhà, hoặc để may màn, hoặc xuống hầm mang mấy cái vại lên đẻ bà làm mứt. Hoặc những lúc hai cha con phải đi chăn cừu, Delie rất muốn cưỡi ngựa ra đồng, ăn uống ngoài trời với họ, người dì lại bảo cô ở nhà phụ làm mứt.
Một hôm, ông Charles nhận được thư và gọi Delie vào phòng khách. Những tờ báo trải trước mặt ông. Ông vuốt ria mép, vẻ lo lắng. Ông không nói được gì nhiều: có một cái gì đó về sự suy sụp sau khi giá cả đất đai tăng vọt…thị trường ế ẩm…nổi kinh hoàng…
Người ta đổ xô đến ngân hàng để rút tiền, và các ngân hàng ở Melbourne đã đóng cửa. Ông Charles chỉ một cái tít: CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ECHUCA NGƯNG PHÁT TIỀN.
Cô kêu lên:
- Nhưng cháu cứ ngỡ rằng bỏ tiền vào ngân hàng là an toàn!
- Ai cũng ngỡ như thế. Mình phải đi Echuca xem sự thể thế nào, có tệ hại lắm không.
Vả lại, họ cũng phải đi Echuca tìm người mới thay thế cho Minna đang mang thai. Ông đánh xe đưa họ đi vòng theo con đường dài, qua các đồi cát…Ông và bà Hester không nói gì với nhau.
Cô vẫn chưa nhận thức dược thảm họa đối với tài sản của cô. Cô ngồi trên chiếc xe độc mã với Adam. Còn bà Hester đi kiếm sở lao động, và ông đi vào cửa hông một ngân hàng tìm ông giám đốc, khi ông bước ra, mặt ông trở nên trang nghiêm. Ông vỗ vỗ bàn tay của cô.
- Cháu à, điều tệ hại nhất đã xảy ra. Tiền bạc của cháu đi đứt cả rồi, hoặc gần như thế.
Cô ngồi nhìn chằm chằm ánh nắng chiếu trên cặp mông bóng lưỡng của con ngựa thiến nâu, đám ruồi nhỏ đen đang bu trên mọt đống phân vàng ngoài đường. Những năm sau đó, cô có thể nhớ lại đống phân vang, bầu trời xanh, phối cảnh của phố Hare với những dãy cửa hiệu, và cả tiếng nói của người dượng: “Tiền bạc của cháu đi đứt cả rồi”. Lúc ấy, dường như tất cả điều đó là không có thực. Cô đã được nghe rằng cố có tiền trong ngân hàng, giờ đây cô lại được nghe là không có tiền gì cả - hoặc đúng hơn, là có không hơn năm mươi bàng. Cô đã bắt đầu nhận ra rồi đây sẽ khác khi bà Hester nghe thấy chuyện này, dù những lời đầu tiên của bà là:
- Tất nhiên là không có gì khác đâu cháu.
Cô im lặng, ngạc nhiên.
- Cháu là con của em dì, và dì dượng muốn cưu mang cháu. Nhưng dì không biết tính sao về cô giáo.
Ông Charles lên tiếng:
- Đúng vậy, nhưng bà để thủng thẳng xem sao.
- Không thủng thẳng gì cả, ngay bây giờ mình cũng có thể bàn công chuyện được; tôi không biết làm thế nào mình có thể trả tiền cho cô Barrett. Còn phần ông cũng phải mất thêm tiền. Tôi đã thuê được Annie, một cô gái rất tốt; chuyện Annie không bàn cãi lôi thôi gì nữa, chiều nay, cô ta sẽ đến. Phải tính chuyện lương hướng, ăn ở của cô ta.
Ông quay sang đứa cháu:
- Thực ra dượng rất may mắn vì đã bỏ tất cả vốn liếng vào tài sản của mình và mua con cừu đực đó. Và dượng chưa bán mớ lông cừu. Dượng rất ân hận, cháu Delie ạ, dượng đã không bảo cháu bỏ vốn vào nông trại ấy, coi vậy lại khá hơn nhiều…
Giờ đây, cô mới nhận thức được đầy đủ ý nghĩa của việc tiền bạc tiêu tan. Bà Hester sẽ càu nhàu cho tới khi cô Barrett đi; và khi cô Barrett đi rồi, những bài học về họa của cô sẽ không còn và cô sẽ không thể đi Echuca hoặc Melbourne để theo học trường nghệ thuật như cô từng mơ ước.
Khi nghe chuyện, cô Barrett liền đề nghị là khỏi phải trả lương trong lúc cô còn ở lại, bởi vì cô thích cô học trò của cô và thích cuộc sống trên sông nước. Cô nói rằng Delie có tài và sau này sẽ học một ông thầy khác, nhưng hiện nay cô sẽ dạy Delie môn họa và vẽ.
Cô nói rằng cô sẽ đăng quảng cáo tìm một chỗ làm khác, cho tới sau lễ Giáng sinh – và có thể phải chờ đến năm sáu tháng để có một chỗ làm thích hợp.
*
Để khỏi nghe giọng nói của bà Hester (dường như lúc nào cũng cáu gắt với cô), Delie trèo lên ngọn cây bách vàng hực ngoài vườn trước. Nằm tựa vào những cành thơm mùa xuân trong khi ánh nắng chiếu vào tay chân mình, cô cảm thấy yên tĩnh.
Trong khi cô ngồi cùng Adam trông ra khúc quanh ngoài xa của dòng sông, nghe tiếng bà Hester ngoài hiên gọi vang, cô bảo:
- Từ khi em hết tiền, dường như má anh không thích em nữa.
Adam cảm thấy khó chịu:
- Anh chắc là không có gì thay đổi. Em chỉ tưởng tượng thôi.
- Nhưng lúc nào dì cũng muốn em làm công chuyện dù chuyện đó chị Annie làm rất tốt. Dường như dì không muốn em ở gần anh.
- Nhảm! Anh không tin.
Nhưng đó là sự thực. Lúc nào ông Charles và Adam định đi Echuca, dì cô cũng bảo cô ở nhà, hoặc để may màn, hoặc xuống hầm mang mấy cái vại lên đẻ bà làm mứt. Hoặc những lúc hai cha con phải đi chăn cừu, Delie rất muốn cưỡi ngựa ra đồng, ăn uống ngoài trời với họ, người dì lại bảo cô ở nhà phụ làm mứt.
lu khach- Kiếm Bạc
- Tổng số bài gửi: 540
Join date: 27/01/2010
Đến từ: Quỷ Môn Quan
Re: TẤT CẢ CÁC DÒNG SÔNG ĐỀU CHẢY - Nancy Cato
14
Một lần nữa thu lại đến, các bãi cỏ lấm tấm màu trắng của những con cừu mới và những tai nấm. Năm trước Adam không chịu đóng dấu cừu nên năm nay cậu không được đến đó.
Lớn con và vạm vỡ, cậu trông lớn hơn tuổi. Cậu chưa tới mười bảy tuổi, nhưng cậu đã có vẻ đàn ông và tự tin. Giờ đây câu cao hơn cô Barrett một chút, và cậu thường bạc bạc với cô về cuộc đời và thi phú. Lúc nào rảnh rỗi, cậu lại giam mình trong phòng đọc sách.
Một hôm, sau giờ học, Delie vào phòng tìm Adam. Cô thấy nhiều tờ giấy vương vãi trên giường, còn cậu cầm trên tay một quản bụt bị gặm nhấm nhiều. Cậu bèn gom các tờ giấy và nói giọng gắt gỏng với cô.
Cô bước đi nhưng băn khoăn, không rõ tại sao người bạn vui vẻ của cô vào mùa hè đầu tiên giờ đây lại thành kẻ xa lạ hết sức tư lự như thế.
Rồi sau bữa ăn chiều, khi cả nhà gặp nhau quanh lò sưởi trong phòng khách, lại xảy ra sự tranh cãi giữa ông Charles và Adam…Nhưng khi Adam định cãi thêm, từ bên kia phòng cô Barrett nhìn cậu, cậu dịu đi.
Lát sau, Adam lại tìm cách đến bên cô Barrett hỏi này nọ, vượt quá sự thân mật thường tình khiến Delie cảm thấy tưng tức…Và bà Hester lại kiếm cớ nhờ con trai tìm một lá bài cơ hoặc rô; bất cứ lúc nào Adam có chuyện bàn bạc với cô Barrett, bà đều thấy cần phải gọi cậu phụ giúp việc gì đó.
Cô Barrett nhận được thư nhưng chưa tìm được chỗ làm mới, nên cô tiếp tục ở lại hướng dẫn cho Adam và Delie trong một thời gian nữa. Nhưng có điều hơi lạ là Adam lại có thái độ rất kỳ cục trước cô giáo khiến Delie rất ngạc nhiên.
Thật ra, Adam là một cậu trai quá lớn đối với một cô giáo. Và quá đẹp trai nữa. Trong những năm dạy ở một trường nữ, cô ta đã quên rằng gần gũi một người nam đẹp trai sẽ rất rắc rối.
*
Delie đi tha thẩn dọc theo bờ sông, ném vỏ cây xuống nước, cẩn thận không nhìn Adam trong khi cậu đang ngắm nhìn dòng sông chảy xuôi dòng. Bỗng Adam ngước lên trông thấy cô, liền gọi cô đến.
Cô vui sướng chạy theo cậu. Cô không đưa bàn tay cho cậu nắm như đã làm một cách tự nhiên sáu tháng trước. Cả hai đi sóng đôi bên hau lên khúc quanh đầy cát rồi xuống mé bên kia chỗ bụi sồi trên quãng đường phẳng.
Một cơn gió hiu hiu nhẹ thổi qua dòng sông. Tiếng gió vi vu buồn bã qua những chiếc lá dài rũ xuống. Adam dừng lại hái một trái sồi. Cậu đứng nhìn, suy nghĩ miên man.
- Ồ, mình đang đi dạo mà, minh đi tới chứ!
Adam “đi tới” rồi nhìn cô tò mò:
- Tại sao em không thích ở lại chỗ kia?
- Vì những cây sồi.
- Vì sồi à? Anh thích phi lao hơn. Nhưng sồi thì sao chứ? Trông như những cô gái da đen có những mái tóc dài rũ xuống.
- Bởi vì…bởi vì nghe như tiếng biển cả.
- Ồ, ồ, tất nhiên rồi, xin lỗi em.
Cô nghĩ rằng thật diễm phúc khi nói chuyện với Adam. Không bao giờ cần giải thích chi tiết. Câu chưa bao giờ đi trên một chiếc tàu buồm, nhưng cậu đoán rằng tiếng gió thở dài, xào xạc trong những thân cây lá mỏng giống như tiếng gió thổi qua các dây thừng và dây buồm, và ở xa nghe như tiếng sóng biển vỗ vào phía dưới đỉnh vách đá dựng, nơi cả gia đình cô đang yên giấc ngàn thu.
Lần đầu tiên khi cô qua nơi có tiếng cây vi vu đó, cô đã rùng mình nức nở. Khi cô nhắm mắt, ảo ảnh thật trọn vẹn.
Đêm hôm ấy, cô đã mơ thấy bờ biển dài trắng mà thuyền trưởng Johnson đã miêu tả, nơi dòng sông Murray gặp biển cả. Cô đi bộ dưới một tuyến đồi cát, hết đợt sóng này đến đợt sóng khác trải dài trước mặt cô và phía sau cô là những bọt nước giá buốt. Còn ở trên bờ biển này cô hết sức cô đơn: không một con hải âu cất tiếng, không một con chim cử động, không gì ngoài tiếng gầm thét của bọt sóng biển đập vào bờ. Và khi cô nhận thấy sự cô đơn của mình tại nơi không có con người này, thì ý thức về cái đẹp và sự kinh hãi khiến cô thức giấc.
Sau đó, cả hai đến khúc quanh kế ít gió hơn, Adam bỗng thò tay vào túi áo trước ngực lấy một tờ giấy.
- Em Delie, em xem cái này.
Cô cầm tờ giấy, thấy những hàng chữ đều đặn, những câu thơ. Adam quay lưng lại, một bàn chân sủi sủi cát…
Cô góp vài ý kiến. Nhưng rồi cậu bỗng giật tờ giấy lại, cô mới biết rằng cậu không muốn cô phê bình, mà chỉ muốn được đưa thơ mình cho người khác xem để lòng mình thanh thản phần nào.
Cô hỏi:
- Anh còn làm thêm bài nào nữa không?
Cậu đưa cho cô một tờ khác. Cô đọc xong, kêu to:
- Hay quá, anh. Tại sao anh không đưa cho cô Barrett xem, như bài này…
- Làm sao anh đưa dược, cô bé ngốc nghếch! Anh viết cho cô ta tất cả những câu thơ này.
Cô vỗ tay vui vẻ:
- Ồ, anh! Anh muốn nói anh yêu cô ta?
- Phải – Cậu chìa hàm ra nhìn xuống dòng sông- Trời, anh yêu cô ta biết bao.
Cô ngồi xuống cát để tin ấy thấm vào cô. Adam yêu cô Barrett! Thật hết sức lãng mạn. Cậu làm thơ cho cô ta, cậu héo hon vì cô ta, và khi chỉ có Delie biết bí mật của cậu. Cô liếc sang bên nhìn gương mặt kiên quyết của cậu, đôi má trong sáng đầy đặn của cậu. Không, cậu hoàn toàn không có vẻ gì là héo hon. Tài nấu ăn của dì Hester và sức ăn ngon của tuổi trẻ tương phản hoàn toàn với hậu quả của mối tình không được đáp lại của cậu.
- Anh, em vui sướng vì anh đã kể cho em nghe. Thích thú lắm.
Cậu buồn bã đáp:
- Thích thú à? Địa ngục thì có.
- Cô ta đẹp, phải không?
- Phải, đẹp.
Cả hai thở dài nặng nề và nhìn đăm đăm qua bên kia sông. Cậu đứng sừng sững, hai bàn chân dang rộng, đầu hơi nhô tới trước. Cô ngồi tựa lên cánh tay bé nhỏ gầy gò của mình. Họ không ý thức gì về bức tranh mà họ đã tạo ra, bức tranh của tuổi trẻ trên bờ sông đang chảy. Mặt trời chiếu sáng trên những mái tóc bóng mượt của họ, mái tóc hầu như đen của cô, mái tóc nâu vàng nhạt của cậu. Rồi mặt trời khuất sau một đám mây dày. Cả hai nhìn lên, rùng mình.
- Có ai đó đang đi trên ngôi mộ của tôi. –Cậu mỉm cười, nhắc lại từng lời mẹ cậu thường nói mỗi khi bà rùng mình.
Nhưng cô nhìn cậu một cách nghiêm trang. Từ khi bị đắm tàu, lúc nào cô cũng nghĩ đến quyền lực vô tư của tử thần đối với những người trẻ trung, khỏe mạnh, cũng như đối với người già cả, tàn tật.
Họ trở về nhà với một tình thân mật mới, chung một đối tượng phụng thờ, như những tín hữu sùng đạo của một tôn giáo mới…
*
Có thư cho cô Barrett đề nghị cô làm gia sư trong một trại chăn nuôi trâu bò ở một miền tây bắc xa xôi của Úc, một miền mà từ lâu cô ta rất muốn tới.
Cô báo với bà Hester rằng cô ta sẽ chờ một tháng nữa, để nghỉ lễ suốt cả tháng chín, trước khi từ biệt. Sau đó trời sẽ rất nóng, không thể đi miền bắc nổi.
Nghe nói thế, Adam đứng lên vội vã rời khỏi phòng. Thế là hết!...Một khi cô Barrett đã ra đi, cuộc sống nơi đây không thể chịu đựng được. Công việc chăn cừu, xén long cừu làm cậu nôn ọe. Cậu muốn ra đi trước khi thời gian xén lông cừu bắt đầu.
Cậu tha thẩn một mình bên dòng sông, lắng nghe những tiếng ếch nhái kêu vui vẻ trong đêm, ồm ồm trong cổ họng chúng, điệu trầm của những con nhái lớn, giọng cao của những con nhái nhỏ, và tiếng nước hòa theo của dòng sông đang chảy. Trong hai ngày nữa, cô Barrett Dorothy – sẽ ra đi. “Dorothy!” Cậu thét lên dữ tợn, nghèn nghẹn gọi tên cô giữa những vì sao. Lần đầu tiên những ánh lửa lạnh lẽo chấp chới đó không lãnh đạm, mà lại đập cùng nhịp với nhịp đập điên cuồng của con tim cậu.
Dưới những ánh sao, nửa say vì tình yêu,
Anh gọi cái tên đẹp đẽ của nàng
Và âm thanh đó bầu trời vang dội
Và những ánh sao cũng bừng lên ngọn lửa…
Lúc cậu chỉ có một mình, bao nhiêu lời lẽ đến với cậu quá dễ dàng, ấy thế mà, khi cậu cố tỏ cho cô mối tình của cậu, thì cậu sẽ trở thành một đứa học trò líu lưỡi, ấp a ấp úng. Dorothy, Dorothy! Làm thế nào cậu có thể để cô ra đi mà không tỏ thật nổi long? Nhưng cô biết, hẳn cô đã trông thấy gương mặt cậu đỏ bừng khi những ngón tay họ tình cờ chạm vào nhau trên một quyển vở bài tập.
Như con thiêu thân lao vào ánh đèn, cậu tha thẩn về phía cửa sổ phòng cô đang sáng đèn, chứng tỏ cô đang đọc sách hoặc đang thu xếp hành trang. Thu xếp hành trang để ra đi, đi khỏi đời cậu mãi mãi!
Cậu rên một tiếng não ruột, tựa vào tường.
Những bức rèm lay động. Một tiếng nói nhỏ nhẹ vang ra:
- Ai đấy? Cậu Adam à? Phải cậu Adam không?
- Vâng, tôi đây.
- Giờ này sao cậu chưa ngủ? Tôi đang thu xếp hành trang…
- Làm thế nào tôi ngủ được, khi mai này cô ra đi?
Cô ta tựa vào khung cửa, nhìn ra ngoài, gương mặt cô ta ngang với mặt cậu, trong mái tóc quăn dài xõa xuống bờ vai. Trong ánh sáng hắt ra từ chiếc đèn dầu hỏa phía sau, không trông thấy được những nếp nhăn mờ quanh mắt cô ta; trông cô ta như một thiếu nữ.
Cô ta nhìn cậu đăm đăm không trả lời, giật mình bởi những lời lẽ của cậu về mối quan hệ giữa học trò và cô giáo, vì vẻ yêu kính mù quáng trên gương mặt trẻ trung của cậu. Trước kia cô ta đã từng trông thấy điều đó, nhưng không bao giờ lại lộ liễu như thế.
Cậu nói:
- Trông cô như Juliet. “Nàng Juliet này, và cửa sổ của nàng là mặt trời”.
Cô ta cười nhẹ, cố tìm lại quyền lực của mình, thứ quyền lực đã mất trong những giây phút cô ta nhìn đăm đăm vào mắt cậu.
- Tôi đâu còn trẻ trung gì để đóng vai đó nữa.
Cậu đặt đôi môi mình lên bàn tay vẫn để trên khung cửa, và rồi lật bàn tay lên áp vào gương mặt nóng bỏng của cậu.
Cậu lúng búng:
- Cô biết là tôi cảm cô như thế nào (A, những lời lẽ phong phú ví von trong tập bản thảo của cậu đâu mất rồi?) Tôi không chịu nổi việc cô ra đi. Mọi điều tôi viết là dành cho cô. Tôi sẽ không bao giờ viết một dòng nào khác nữa.
- Có những bài thơ à?
- Cho cô. Chỉ riêng cho cô.
- Cậu bé ngốc nghếch. Cậu biết tôi bao nhiêu tuổi không?
- Tôi không cần. Cô đẹp. Với mái tóc như thế này, sáng trong ánh đèn…
- Cậu chờ một chút. Tôi có cuốn sách cho cậu. Chính tôi chép lại nhưng tôi muốn dành cho cậu.
Cô ta quay lại lục lọi trong đống sách trên sàn bên cạnh một chiếc hộp mở nắp sẵn.
- A, đây rồi. Cậu…
Cô ta dừng lại, thở hổn hển nhè nhẹ, bàn tay bát giác cài chiếc khuy áo ngủ trên ngực lại. Đặt đôi bàn tay vẫn để ra lên khung cửa, Adam nhẹ nhàng nhảy qua cửa sổ. Cậu ngồi giữa hai bức rèm, đôi mắt sáng nhìn cô, đăm đăm, nóng bỏng.
- Đây…đây, sách đây. Bây giờ cậu đi đi.
Cô ta tiến tới, đưa quyển sách như đưa một miếng ăn cho một con chó to nguy hiểm. Adam lấy quyển sách, bỏ vào túi không nhìn và nắm đôi bàn tay cô ta.
Cậu thì thầm:
- Dorothy! Tôi chưa bao giờ gọi như thế, phải không?
- Cậu Adam! Kỳ cục quá.
Cô ta đứng đờ ra trong khi đôi tay cậu quàng vòng quanh người cô ta, những cậu bỗng cảm thấy cô ta thở dài. Cậu sờ soạng dáng hình cao cao thanh mảnh của cô ta qua làn áo ngủ bằng lụa mỏng manh, mặt cô ta, cổ cô ta, làn da thơm ngát mát rượi của cô ta. Cậu nói qua mái tóc cô ta.
- Giúp tôi đi…dạy tôi đi.
- Adam, tôi không thể dạy cậu viết. Chỉ thực hành rồi cậu mới quen. - Cô ta nói như bình thường, nhưng giọng cô run run.
- Tôi không muốn nói thế. Tôi muốn nói chuyện khác.
Cô ta cười lớn, mơ hồ:
- Cậu bé thân yêu của tôi…!
Bàn tay cô ta mơn man mái tóc cậu, nhè nhẹ, đều đều. Cậu vừa vòng tay ôm nâng người cô ta, vừa loạng choạng tiến về chiếc giường, thổi tắt ngọn đèn khi đi qua. Tất cả ánh sao dường như lọt vào căn phòng.
*
Đêm ấy Adam đi bộ mấy dặm dài theo bờ sông. Cậu đăm đăm nhìn vào các tinh thể quen thuộc, chưa tin hẳn câu chuyện đã xảy ra. Cậu say sưa trong thành tựu và tự hào của mình: Cậu, Adam Jamieson, đã chứng tỏ mình là đàn ông. Và Dorothy, cô ta đáng yêu biết mấy, dịu dàng biết mấy! Tuy nhiên cậu nhìn cô ta dưới một góc độ hơi khác, không còn là một nữ thần trên bục nữa. Cô ta đã là của cậu. Nữ thần đã bước xuống vào vòng tay của cậu. Và trong thâm tâm mình, cậu mường tượng là đáng lẽ cô ta không nên làm thế, hoặc ít ra là không nên làm thế một cách quá dễ dàng.
Đó là một kinh nghiệm thần kỳ, nhưng thật ra nó không hoàn toàn là những điều cậu mong đợi từ sách vở. Chấm dứt sớm quá, và để lại một cảm giác buồn mang mác…không, không, cậu không được nghĩ như vậy. Trước hết phải là một cảm giác bình yên thần diệu đã.
Dorothy…Với đôi mắt sáng có đốm vàng nhỏ, như ánh nắng trong một ngày đông; với trí tuệ của người đàn ông, thân hình mềm mại không tưởng tượng được. Không bao lâu nữa cô ta sẽ ra đi và cậu sẽ không bao giờ gặp lại cô ta nữa!
thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?t=7070
Một lần nữa thu lại đến, các bãi cỏ lấm tấm màu trắng của những con cừu mới và những tai nấm. Năm trước Adam không chịu đóng dấu cừu nên năm nay cậu không được đến đó.
Lớn con và vạm vỡ, cậu trông lớn hơn tuổi. Cậu chưa tới mười bảy tuổi, nhưng cậu đã có vẻ đàn ông và tự tin. Giờ đây câu cao hơn cô Barrett một chút, và cậu thường bạc bạc với cô về cuộc đời và thi phú. Lúc nào rảnh rỗi, cậu lại giam mình trong phòng đọc sách.
Một hôm, sau giờ học, Delie vào phòng tìm Adam. Cô thấy nhiều tờ giấy vương vãi trên giường, còn cậu cầm trên tay một quản bụt bị gặm nhấm nhiều. Cậu bèn gom các tờ giấy và nói giọng gắt gỏng với cô.
Cô bước đi nhưng băn khoăn, không rõ tại sao người bạn vui vẻ của cô vào mùa hè đầu tiên giờ đây lại thành kẻ xa lạ hết sức tư lự như thế.
Rồi sau bữa ăn chiều, khi cả nhà gặp nhau quanh lò sưởi trong phòng khách, lại xảy ra sự tranh cãi giữa ông Charles và Adam…Nhưng khi Adam định cãi thêm, từ bên kia phòng cô Barrett nhìn cậu, cậu dịu đi.
Lát sau, Adam lại tìm cách đến bên cô Barrett hỏi này nọ, vượt quá sự thân mật thường tình khiến Delie cảm thấy tưng tức…Và bà Hester lại kiếm cớ nhờ con trai tìm một lá bài cơ hoặc rô; bất cứ lúc nào Adam có chuyện bàn bạc với cô Barrett, bà đều thấy cần phải gọi cậu phụ giúp việc gì đó.
Cô Barrett nhận được thư nhưng chưa tìm được chỗ làm mới, nên cô tiếp tục ở lại hướng dẫn cho Adam và Delie trong một thời gian nữa. Nhưng có điều hơi lạ là Adam lại có thái độ rất kỳ cục trước cô giáo khiến Delie rất ngạc nhiên.
Thật ra, Adam là một cậu trai quá lớn đối với một cô giáo. Và quá đẹp trai nữa. Trong những năm dạy ở một trường nữ, cô ta đã quên rằng gần gũi một người nam đẹp trai sẽ rất rắc rối.
*
Delie đi tha thẩn dọc theo bờ sông, ném vỏ cây xuống nước, cẩn thận không nhìn Adam trong khi cậu đang ngắm nhìn dòng sông chảy xuôi dòng. Bỗng Adam ngước lên trông thấy cô, liền gọi cô đến.
Cô vui sướng chạy theo cậu. Cô không đưa bàn tay cho cậu nắm như đã làm một cách tự nhiên sáu tháng trước. Cả hai đi sóng đôi bên hau lên khúc quanh đầy cát rồi xuống mé bên kia chỗ bụi sồi trên quãng đường phẳng.
Một cơn gió hiu hiu nhẹ thổi qua dòng sông. Tiếng gió vi vu buồn bã qua những chiếc lá dài rũ xuống. Adam dừng lại hái một trái sồi. Cậu đứng nhìn, suy nghĩ miên man.
- Ồ, mình đang đi dạo mà, minh đi tới chứ!
Adam “đi tới” rồi nhìn cô tò mò:
- Tại sao em không thích ở lại chỗ kia?
- Vì những cây sồi.
- Vì sồi à? Anh thích phi lao hơn. Nhưng sồi thì sao chứ? Trông như những cô gái da đen có những mái tóc dài rũ xuống.
- Bởi vì…bởi vì nghe như tiếng biển cả.
- Ồ, ồ, tất nhiên rồi, xin lỗi em.
Cô nghĩ rằng thật diễm phúc khi nói chuyện với Adam. Không bao giờ cần giải thích chi tiết. Câu chưa bao giờ đi trên một chiếc tàu buồm, nhưng cậu đoán rằng tiếng gió thở dài, xào xạc trong những thân cây lá mỏng giống như tiếng gió thổi qua các dây thừng và dây buồm, và ở xa nghe như tiếng sóng biển vỗ vào phía dưới đỉnh vách đá dựng, nơi cả gia đình cô đang yên giấc ngàn thu.
Lần đầu tiên khi cô qua nơi có tiếng cây vi vu đó, cô đã rùng mình nức nở. Khi cô nhắm mắt, ảo ảnh thật trọn vẹn.
Đêm hôm ấy, cô đã mơ thấy bờ biển dài trắng mà thuyền trưởng Johnson đã miêu tả, nơi dòng sông Murray gặp biển cả. Cô đi bộ dưới một tuyến đồi cát, hết đợt sóng này đến đợt sóng khác trải dài trước mặt cô và phía sau cô là những bọt nước giá buốt. Còn ở trên bờ biển này cô hết sức cô đơn: không một con hải âu cất tiếng, không một con chim cử động, không gì ngoài tiếng gầm thét của bọt sóng biển đập vào bờ. Và khi cô nhận thấy sự cô đơn của mình tại nơi không có con người này, thì ý thức về cái đẹp và sự kinh hãi khiến cô thức giấc.
Sau đó, cả hai đến khúc quanh kế ít gió hơn, Adam bỗng thò tay vào túi áo trước ngực lấy một tờ giấy.
- Em Delie, em xem cái này.
Cô cầm tờ giấy, thấy những hàng chữ đều đặn, những câu thơ. Adam quay lưng lại, một bàn chân sủi sủi cát…
Cô góp vài ý kiến. Nhưng rồi cậu bỗng giật tờ giấy lại, cô mới biết rằng cậu không muốn cô phê bình, mà chỉ muốn được đưa thơ mình cho người khác xem để lòng mình thanh thản phần nào.
Cô hỏi:
- Anh còn làm thêm bài nào nữa không?
Cậu đưa cho cô một tờ khác. Cô đọc xong, kêu to:
- Hay quá, anh. Tại sao anh không đưa cho cô Barrett xem, như bài này…
- Làm sao anh đưa dược, cô bé ngốc nghếch! Anh viết cho cô ta tất cả những câu thơ này.
Cô vỗ tay vui vẻ:
- Ồ, anh! Anh muốn nói anh yêu cô ta?
- Phải – Cậu chìa hàm ra nhìn xuống dòng sông- Trời, anh yêu cô ta biết bao.
Cô ngồi xuống cát để tin ấy thấm vào cô. Adam yêu cô Barrett! Thật hết sức lãng mạn. Cậu làm thơ cho cô ta, cậu héo hon vì cô ta, và khi chỉ có Delie biết bí mật của cậu. Cô liếc sang bên nhìn gương mặt kiên quyết của cậu, đôi má trong sáng đầy đặn của cậu. Không, cậu hoàn toàn không có vẻ gì là héo hon. Tài nấu ăn của dì Hester và sức ăn ngon của tuổi trẻ tương phản hoàn toàn với hậu quả của mối tình không được đáp lại của cậu.
- Anh, em vui sướng vì anh đã kể cho em nghe. Thích thú lắm.
Cậu buồn bã đáp:
- Thích thú à? Địa ngục thì có.
- Cô ta đẹp, phải không?
- Phải, đẹp.
Cả hai thở dài nặng nề và nhìn đăm đăm qua bên kia sông. Cậu đứng sừng sững, hai bàn chân dang rộng, đầu hơi nhô tới trước. Cô ngồi tựa lên cánh tay bé nhỏ gầy gò của mình. Họ không ý thức gì về bức tranh mà họ đã tạo ra, bức tranh của tuổi trẻ trên bờ sông đang chảy. Mặt trời chiếu sáng trên những mái tóc bóng mượt của họ, mái tóc hầu như đen của cô, mái tóc nâu vàng nhạt của cậu. Rồi mặt trời khuất sau một đám mây dày. Cả hai nhìn lên, rùng mình.
- Có ai đó đang đi trên ngôi mộ của tôi. –Cậu mỉm cười, nhắc lại từng lời mẹ cậu thường nói mỗi khi bà rùng mình.
Nhưng cô nhìn cậu một cách nghiêm trang. Từ khi bị đắm tàu, lúc nào cô cũng nghĩ đến quyền lực vô tư của tử thần đối với những người trẻ trung, khỏe mạnh, cũng như đối với người già cả, tàn tật.
Họ trở về nhà với một tình thân mật mới, chung một đối tượng phụng thờ, như những tín hữu sùng đạo của một tôn giáo mới…
*
Có thư cho cô Barrett đề nghị cô làm gia sư trong một trại chăn nuôi trâu bò ở một miền tây bắc xa xôi của Úc, một miền mà từ lâu cô ta rất muốn tới.
Cô báo với bà Hester rằng cô ta sẽ chờ một tháng nữa, để nghỉ lễ suốt cả tháng chín, trước khi từ biệt. Sau đó trời sẽ rất nóng, không thể đi miền bắc nổi.
Nghe nói thế, Adam đứng lên vội vã rời khỏi phòng. Thế là hết!...Một khi cô Barrett đã ra đi, cuộc sống nơi đây không thể chịu đựng được. Công việc chăn cừu, xén long cừu làm cậu nôn ọe. Cậu muốn ra đi trước khi thời gian xén lông cừu bắt đầu.
Cậu tha thẩn một mình bên dòng sông, lắng nghe những tiếng ếch nhái kêu vui vẻ trong đêm, ồm ồm trong cổ họng chúng, điệu trầm của những con nhái lớn, giọng cao của những con nhái nhỏ, và tiếng nước hòa theo của dòng sông đang chảy. Trong hai ngày nữa, cô Barrett Dorothy – sẽ ra đi. “Dorothy!” Cậu thét lên dữ tợn, nghèn nghẹn gọi tên cô giữa những vì sao. Lần đầu tiên những ánh lửa lạnh lẽo chấp chới đó không lãnh đạm, mà lại đập cùng nhịp với nhịp đập điên cuồng của con tim cậu.
Dưới những ánh sao, nửa say vì tình yêu,
Anh gọi cái tên đẹp đẽ của nàng
Và âm thanh đó bầu trời vang dội
Và những ánh sao cũng bừng lên ngọn lửa…
Lúc cậu chỉ có một mình, bao nhiêu lời lẽ đến với cậu quá dễ dàng, ấy thế mà, khi cậu cố tỏ cho cô mối tình của cậu, thì cậu sẽ trở thành một đứa học trò líu lưỡi, ấp a ấp úng. Dorothy, Dorothy! Làm thế nào cậu có thể để cô ra đi mà không tỏ thật nổi long? Nhưng cô biết, hẳn cô đã trông thấy gương mặt cậu đỏ bừng khi những ngón tay họ tình cờ chạm vào nhau trên một quyển vở bài tập.
Như con thiêu thân lao vào ánh đèn, cậu tha thẩn về phía cửa sổ phòng cô đang sáng đèn, chứng tỏ cô đang đọc sách hoặc đang thu xếp hành trang. Thu xếp hành trang để ra đi, đi khỏi đời cậu mãi mãi!
Cậu rên một tiếng não ruột, tựa vào tường.
Những bức rèm lay động. Một tiếng nói nhỏ nhẹ vang ra:
- Ai đấy? Cậu Adam à? Phải cậu Adam không?
- Vâng, tôi đây.
- Giờ này sao cậu chưa ngủ? Tôi đang thu xếp hành trang…
- Làm thế nào tôi ngủ được, khi mai này cô ra đi?
Cô ta tựa vào khung cửa, nhìn ra ngoài, gương mặt cô ta ngang với mặt cậu, trong mái tóc quăn dài xõa xuống bờ vai. Trong ánh sáng hắt ra từ chiếc đèn dầu hỏa phía sau, không trông thấy được những nếp nhăn mờ quanh mắt cô ta; trông cô ta như một thiếu nữ.
Cô ta nhìn cậu đăm đăm không trả lời, giật mình bởi những lời lẽ của cậu về mối quan hệ giữa học trò và cô giáo, vì vẻ yêu kính mù quáng trên gương mặt trẻ trung của cậu. Trước kia cô ta đã từng trông thấy điều đó, nhưng không bao giờ lại lộ liễu như thế.
Cậu nói:
- Trông cô như Juliet. “Nàng Juliet này, và cửa sổ của nàng là mặt trời”.
Cô ta cười nhẹ, cố tìm lại quyền lực của mình, thứ quyền lực đã mất trong những giây phút cô ta nhìn đăm đăm vào mắt cậu.
- Tôi đâu còn trẻ trung gì để đóng vai đó nữa.
Cậu đặt đôi môi mình lên bàn tay vẫn để trên khung cửa, và rồi lật bàn tay lên áp vào gương mặt nóng bỏng của cậu.
Cậu lúng búng:
- Cô biết là tôi cảm cô như thế nào (A, những lời lẽ phong phú ví von trong tập bản thảo của cậu đâu mất rồi?) Tôi không chịu nổi việc cô ra đi. Mọi điều tôi viết là dành cho cô. Tôi sẽ không bao giờ viết một dòng nào khác nữa.
- Có những bài thơ à?
- Cho cô. Chỉ riêng cho cô.
- Cậu bé ngốc nghếch. Cậu biết tôi bao nhiêu tuổi không?
- Tôi không cần. Cô đẹp. Với mái tóc như thế này, sáng trong ánh đèn…
- Cậu chờ một chút. Tôi có cuốn sách cho cậu. Chính tôi chép lại nhưng tôi muốn dành cho cậu.
Cô ta quay lại lục lọi trong đống sách trên sàn bên cạnh một chiếc hộp mở nắp sẵn.
- A, đây rồi. Cậu…
Cô ta dừng lại, thở hổn hển nhè nhẹ, bàn tay bát giác cài chiếc khuy áo ngủ trên ngực lại. Đặt đôi bàn tay vẫn để ra lên khung cửa, Adam nhẹ nhàng nhảy qua cửa sổ. Cậu ngồi giữa hai bức rèm, đôi mắt sáng nhìn cô, đăm đăm, nóng bỏng.
- Đây…đây, sách đây. Bây giờ cậu đi đi.
Cô ta tiến tới, đưa quyển sách như đưa một miếng ăn cho một con chó to nguy hiểm. Adam lấy quyển sách, bỏ vào túi không nhìn và nắm đôi bàn tay cô ta.
Cậu thì thầm:
- Dorothy! Tôi chưa bao giờ gọi như thế, phải không?
- Cậu Adam! Kỳ cục quá.
Cô ta đứng đờ ra trong khi đôi tay cậu quàng vòng quanh người cô ta, những cậu bỗng cảm thấy cô ta thở dài. Cậu sờ soạng dáng hình cao cao thanh mảnh của cô ta qua làn áo ngủ bằng lụa mỏng manh, mặt cô ta, cổ cô ta, làn da thơm ngát mát rượi của cô ta. Cậu nói qua mái tóc cô ta.
- Giúp tôi đi…dạy tôi đi.
- Adam, tôi không thể dạy cậu viết. Chỉ thực hành rồi cậu mới quen. - Cô ta nói như bình thường, nhưng giọng cô run run.
- Tôi không muốn nói thế. Tôi muốn nói chuyện khác.
Cô ta cười lớn, mơ hồ:
- Cậu bé thân yêu của tôi…!
Bàn tay cô ta mơn man mái tóc cậu, nhè nhẹ, đều đều. Cậu vừa vòng tay ôm nâng người cô ta, vừa loạng choạng tiến về chiếc giường, thổi tắt ngọn đèn khi đi qua. Tất cả ánh sao dường như lọt vào căn phòng.
*
Đêm ấy Adam đi bộ mấy dặm dài theo bờ sông. Cậu đăm đăm nhìn vào các tinh thể quen thuộc, chưa tin hẳn câu chuyện đã xảy ra. Cậu say sưa trong thành tựu và tự hào của mình: Cậu, Adam Jamieson, đã chứng tỏ mình là đàn ông. Và Dorothy, cô ta đáng yêu biết mấy, dịu dàng biết mấy! Tuy nhiên cậu nhìn cô ta dưới một góc độ hơi khác, không còn là một nữ thần trên bục nữa. Cô ta đã là của cậu. Nữ thần đã bước xuống vào vòng tay của cậu. Và trong thâm tâm mình, cậu mường tượng là đáng lẽ cô ta không nên làm thế, hoặc ít ra là không nên làm thế một cách quá dễ dàng.
Đó là một kinh nghiệm thần kỳ, nhưng thật ra nó không hoàn toàn là những điều cậu mong đợi từ sách vở. Chấm dứt sớm quá, và để lại một cảm giác buồn mang mác…không, không, cậu không được nghĩ như vậy. Trước hết phải là một cảm giác bình yên thần diệu đã.
Dorothy…Với đôi mắt sáng có đốm vàng nhỏ, như ánh nắng trong một ngày đông; với trí tuệ của người đàn ông, thân hình mềm mại không tưởng tượng được. Không bao lâu nữa cô ta sẽ ra đi và cậu sẽ không bao giờ gặp lại cô ta nữa!
thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?t=7070
lu khach- Kiếm Bạc
- Tổng số bài gửi: 540
Join date: 27/01/2010
Đến từ: Quỷ Môn Quan
Trang 1 trong tổng số 3 trang • 1, 2, 3 
Similar topics» Bánh Canh Chay 1
» Song Seung Heon - Lee Seol 's Park Hae Young <3
» Truyện audio: Tất cả các dòng sông đều chảy
» Những chiếc bánh gato khiến teen mê mẩn
» Cách đan khăn caro
» Song Seung Heon - Lee Seol 's Park Hae Young <3
» Truyện audio: Tất cả các dòng sông đều chảy
» Những chiếc bánh gato khiến teen mê mẩn
» Cách đan khăn caro
Trang 1 trong tổng số 3 trang
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết





