Tây Sơn bi hùng truyện - Lê Đình Danh
Trang 15 trong tổng số 15 trang • Share •
Trang 15 trong tổng số 15 trang •
1 ... 9 ... 13, 14, 15
Re: Tây Sơn bi hùng truyện - Lê Đình Danh
Chương 67
Muốn cứu mẹ, Trần Quang Diệu ra hàng.
Quyết theo vua, Vũ Văn Dũng bị bắt.
Nói về Nguyễn vương ở Phú Xuân nghe tin tướng Tây Sơn là Diệu và Dũng bỏ thành Quy Nhơn theo đường Thượng đạo rút quân ra Bắc; lắp tức cho hội bá quan văn võ, Nguyễn vương nói:
- Một dải giang sơn của nhà Nguyễn ta từ sông Linh Giang trở vào đã được khôi phục như xưa. Nay ta muốn đắp lại luỹ Trường Dục, dùng sông Linh Giang làm ranh giới không ra Bắc đánh Tây Sơn nữa. Chẳng hay ý các khanh thế nào?
Đặng Đức Siêu thất kinh bước ra thưa:
- Nay quân ta khí thế đang hăng, giặc Tây Sơn nghe hơi khiếp đảm chưa đánh đã tan. Lúc này là lúc ta nên thừa thắng kéo quân ra Bắc diệt giặc, sao Thượng vương lại định dùng sông Linh Giang là ranh giới mà bộ mất thời cơ thống nhất sơn hà!
Nguyễn vương xua tay bảo:
- Ta kéo quân ra Bắc diệt giặc Tây Sơn rồi Hoàng tộc vua Lê lại đòi đất của họ từ sông Linh Giang ra thì có phải là ta tốn công vô ích hay chăng?
Đặng Đức Siêu mỉm cười thưa:
- Hạ thần xin hiến một kế khiến cho Hoàng tộc nhà Lê không thể đòi lại đất Bắc được.
Nguyễn vương miễn cưỡng hỏi:
- Kế thế nào?
Siêu đáp:
- Nguyễn vương hãy lên ngôi Hoàng đế rồi kéo quân ra Bắc đánh giặc Tây Sơn. Vậy là ta đoạt nước trong tay nhà Tây Sơn, và Hoàng tộc nhà Lê thấy Thượng vương đã lên làm vua tất hiểu rằng là ta không có ý diệt Tây Sơn để phò Lê thì làm gì mà dám đòi lại nước.
Mỗi người đồng thanh khen:
- Đặng tiên sinh thật là cao kiến! Xin Thượng vương hãy lên ngôi Hoàng đế!
Nguyễn vương liền xua tay áo:
- Ta tại sớ đức kém sao dám lên ngôi. Việc này thật không nên.
Siêu lại tâu:
- Thượng vương quy tụ mưu thần, dùng tướng đi đến đâu giặc Tây Sơn tan đến đấy sao bảo là tại số? Hiện nay nhân dân khắp trong nước truyền từng ca hát rằng:
Lậy trời cho chóng gió Nồm.
Cho thuyền Chúa Nguyễn giong buồm thẳng ra.
chứng tỏ bá tánh đều trông về Thượng vương thì sao bảo là đức kém? Xin Thượng vương trước hay lên ngôi cho an lòng tướng sĩ rồi đem quân Bắc tiến diệt Tây Sơn.
Bá quan văn võ đều quỳ xuống đồng thanh tâu:
- Xin Thượng vương hay lên ngôi cho an lòng trăm họ!
Nguyễn vương nhíu mày suy nghĩ giây lâu rồi bảo:
- Vì sự nghiệp thống nhất giang sơn ta đánh phải lên ngôi chứ thật lòng không muốn.
Các quan mừng rỡ cùng cúi lậy tung hô vạn tuế.
Tháng năm, năm Nhâm Tuất (1802) Nguyễn vương Phúc Ánh lập đàn tế cáo trời đất, lên ngôi Hoàng đế lấy đế hiệu là Gia Long đất tên nước là Việt Nam(*).
(*) Sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh cử sứ sang nhà Thanh xin phong vương và đổi tên nước là Nam Việt. Nhà Thanh cho rằng tên nước sẽ lẫn với nước của Triệu Đà (gồm cả Đông Việt, Tây Việt) nên đổi tên là Việt Nam.
Lên ngôi xong, vua Gia Long liền truyền lệnh xuất quân ra Bắc đánh Tây Sơn. Đặng Bức Siêu hỏi:
- Xưa nay các bậc thánh nhân khi lên ngôi chí tôn đều mở hội ăn mừng, đại xá thiên hạ. Hoàng thượng mới lên ngôi chúa làm việc ấy sao đã vội xuất chinh?
Vua Gia Long đáp:
- Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đã bỏ thành Bình Định kéo quân ra Bắc hợp quân với Cảnh Thịnh. Nếu để vua tôi chúng gặp nhau thì thật là bất lợi cho ta. Nên ta phải lập tức xuất quân chặn đường ra Bắc và đón bắt Diệu, Dũng. Trừ được hai tên này thì giặc Tây Sơn chưa đánh mà tan vậy.
Siêu lại hỏi:
- Đường Thượng đạo là do Trần Quang Diệu theo lối mòn của ngươi Thượng đi lại vài nhau mãi mà ra. Đường này núi non hiểm trở, người Thượng lại hết lòng giúp giặc Tây Sơn. Sao ta có thể chặn đường đó bắt Diệu, Dũng được?
Vua Gia Long cười đáp:
- Chính vậy nên mới phải lập tức xuất quân. Nếu ta chiếm được nơi này trước thì Diệu, Dũng ắt cùng đường.
Siêu lại hỏi:
- Ấy là nơi nào?
Vua Gia Long kề tai Siêu nói nhỏ. Nghe xong Siêu khen:
- Hoàng thượng liệu việc hơn người. Hạ thần xin bái phục!
Vua Gia Long liền hạ lệnh toàn quân theo hai đường thuỷ, bộ rầm rộ tiến quân ra Bắc.
Nói về tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng bỏ thành Quy Nhơn theo đường Thượng đạo định rút quân ra Bắc. Diệu thúc quân đi ngày đêm không nghỉ. Dũng bàn với Diệu rằng:
- Đường Thượng đạo núi non hiểm trở, quân ta lại mệt mỏi. Sao Trần huynh lại hôi quân đi gấp thế, ráng quân ta không chịu nói.
Diệu buồn bã than:
- Tôi vẫn biết vậy, những nếu quân ta đi chậm hơn Nguyễn Phúc Ánh là ta cùng đường đó.
Dũng lo lắng hỏi:
- Thế nào là chậm hơn Nguyễn Phúc Ánh?
Diệu thở dài đáp:
- Đường Thượng đạo chỉ ra đến Nghệ An là hết. Nếu Nguyễn Phúc Ánh tiến quân đánh lấy Nghệ an trước là ta không còn đường ra Bắc. Chính vì vậy mà ta phải hội quân đi mau lên mới được.
Dũng rầu rĩ bảo:
- Nhưng quân ta vừa mệt vừa đói, vả lại trời ở tối, ta nên dừng quân nghỉ ngơi mai hãy đi tiếp.
Diệu lại thở dài nói:
- E rằng ta đi chậm hơn Nguyễn Phúc Ánh mất. Nhưng đành phải thế mà thôi.
Nói xong Diệu, Dũng lệnh quân hạ trại nghỉ ngơi. Sáng hôm sau Diệu đến trại Dũng gọi:
- Vụ huynh mau dậy lên đường mau!
Diệu vừa dứt lời, quân vào báo:
- Thưa tướng quân, quân ta đói khát mệt mỏi, tinh thần rã rời, thừa đêm tối đã bỏ trốn hơn một nửa.
Dũng bảo quân:
- Ai bỏ trốn thì thôi không truy cứu làm gì. Còn lại lập tức lên đường.
Quân Tây Sơn lại trèo đèo lội suối mà đi, cực khổ trăm bề. Đi được một tháng đến vùng rừng núi thuộc đất Thuận Hoá, phía Tây kinh thành Phú Xuân, bỗng thấy hai viên nữ tướng từ hướng Bắc cưỡi voi đi đến. Vừa gặp nhau, hai người ấy liền nhảy khỏi bành voi, một người ôm lấy Diệu khóc kêu lên rằng:
- Phu quân ơi! Phu quân!
Diệu vội hỏi:
- Vua ta đâu, sao phu nhân lại đến nỗi này?
Bùi Thị Xuân gạt nước mắt đáp:
- Nguyễn Phúc Ánh đem binh tiến đánh kinh thành, thiếp có sức chống giữ. Chẳng dè vua bỏ trận mà chạy, quân hốt hoảng chạy theo. Kinh thành thất thủ. Thiếp và Bùi Thị Cúc đoạn hậu cho vua chạy ra Động Hải với Đặng Xuân Phong. Chị em thiếp bị Lê Văn Duyệt vây may mà phá vây thoát được, định theo đường Thượng đạo vào Quy Nhơn cũng phu quân và Vũ tướng quân. Nào ngờ gặp hai người ở đây...
Ngắt lời Xuân, Diệu hỏi:
- Vậy còn mẹ và con ta thế nào?
Xuân khóc lên đáp:
- Thiếp vì theo hộ giá Hoàng thượng nên không kịp đem theo mẹ và con. Hiện mẹ và con còn trong thành Phú Xuân không biết sống chết thế nào.
Trần Quang Diệu buông đao ngửa mặt lên trời than:
- Không ngờ bọn ta phải đến lúc nước mất nhà tan thế này.
Vũ Văn Dũng thở dài hỏi:
- Việc đến nước này Trần huynh, Bùi tỷ liệu tính làm sao?
Bùi Thị Xuân đáp:
- Nay ta phải gấp ra Nghệ An. Nếu để Phúc Ánh chiếm mất là ta không còn đường ra Bắc. E đại cuộc hỏng mất.
Nói đoạn ba tướng lại hối quân vượt núi băng rừng lặn lội mà đi. Lần hồi đến vùng rừng núi phía Tây Hà Trung (tính Hà Tĩnh ngày nay) Trần Quang Diệu bảo:
- Chỉ còn hơn trăm dặm nữa là đến Nghệ An. Ba quân hay cố gắng lên.
Diệu vừa dứt lời, bỗng từ trong bụi rậm một tên quân Tây Sơn chạy ra gào khóc kêu lên rằng:
- Tướng quân ơi! Tướng quân!
Dũng ngạc nhiên hỏi:
- Ngươi là quân nào. Sao lại gạo khóc lên như thế?
Tên quân quỳ lạy đáp:
- Hạ thân là quân Hà Trung dưới trướng của tướng quân Đặng Xuân Bảo. Hà Trung thất thủ tướng quân Đặng Xuân Bảo vì đi đoạn hậu cho vua ta chạy thoát nên chẳng may bị quân Gia Miêu bắt. hạ thần phải chạy trốn lên rừng, may mà gặp các vị tướng quân ở đây.
Bùi Thị Xuân xen vào hỏi:
- Vậy còn Đặng Xuân Phong trấn thủ đèo Hoành Sơn ở đâu mà quân Gia Miêu có thể tiến đánh Hà Trung được?
Tổn quân đáp:
- Tướng quân Đặng Xuân Phong trấn thủ đèo Hoành Sơn, hai tướng Gia Miêu là Lê Văn Duyệt v Lê Chất không tiến lên được. Nào ngờ đêm ấy tướng quân Đặng Xuân Phong lâm bạo bệnh mà mất thình lình nên giặc mới chiếm được ải Hoành Sơn rồi thừa thắng tiến đánh Hà Trung.
Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng nghe xong, đồng thanh thốt lên rằng:
- Thế là trời muốn tiệt nhà Tây Sơn ta rồi!
Đoạn Diệu hỏi:
- Hiện nay quân giặc đã tiến đến đâu rồi?
Tên quân đáp:
- Đã chiếm đất Nghệ An.
Diệu ngửa mặt than rằng:
- Thế là ta đã cùng đường rồi vậy!
Dũng nghiến răng bảo:
- Dù thế nào ta cũng phải tấn công chiếm là Nghệ An.
Diệu quay sang hỏi tả hữu:
- Quân ta hiện còn được bao nhiêu?
Tả hữu đáp:
- Thưa chỉ còn một vạn.
Diệu ngẫm nghĩ rồi bảo:
- Giặc đã chiếm Nghệ An thì ta không còn gì ở vội vàng nữa. Truyền quân hạ trại nghỉ ngơi rồi ngày mai tiến ra đánh Nghệ An.
Sang sớm hôm sau quân tin cẩn chạy vào báo cùng Diệu, Dũng:
- Quân ta nghe giặc chiếm đất Nghệ An hoảng sợ thừa đêm tối bỏ trốn gần hết, quân sĩ còn lại có hai ngàn người.
Trần Quang Diệu bảo:
- Truyền lệnh ta lập tức điểm binh.
Quân Tây Sơn tập hợp giữa một trảng cỏ tranh. Diệu, Dũng, Xuân thấy quân mình xanh xao gầy ốm, quần áo tả tơi, giáo gươm sứt mẻ thì lòng đau như cắt. Diệu buồn rầu nói:
- Nay Nguyễn Phúc Ánh đã chiếm mất Nghệ An là ta không còn đường ra Bắc theo vua, nếu đánh chiếm lại Nghệ An là điều không thể làm được. Ta nỡ đâu đưa các ngươi vào chỗ chết. Vậy nay ta giải tán quân binh, các ngươi hãy tìm đường trốn tránh về quê quán làm ăn và xin các ngươi đứng trách ta là tướng mà không bảo toàn được cho quân sĩ.
Nói đến đây Diệu ôm mặt khóc. Bùi Thị Xuân và Vũ Văn Dũng cầm lòng không được nức nở khóc theo. Hai ngàn quân Tây Sơn cũng quỳ xuống khóc lậy nói:
- Xin ba vị tướng quân bảo trọng!
Bỗng một viên tiểu tướng già bước ra gạt nước mắt rồi cầm tay Diệu, Dũng nói:
- Hạ thần theo tướng quân tứ lúc hai Tiên đế dấy nghĩa ở Tây Sơn, trước lúc chia tay xin có vài lời. Nhị vị tướng quân đem mười vạn bình vào đánh Võ Tánh và Ngô Tùng Châu chiếm lại thành Quy Nhơn, đến này quân lính bỏ trốn chỉ còn có hai ngàn người, chẳng phải quân ta vì cùng đường sợ chết bỏ tướng quân đi mà bởi vua ta nhu nhược hôn muội, gần kẻ nịnh thần làm điều tàn bạo giết hại tôi trung, khiến lòng người ly tán. Nếu chúng thần liều chết đánh lấy Nghệ An thu hồi vì chính nghĩa nào đây? Ấy chính là cái cơ diệt vong của nhà Tây Sơn ta vậy! Nay tướng quân cho chúng tôi đi, con ba vị tướng quân liệu tính thế nào?
Diệu ngẫm nghĩ đáp:
- Bọn ta giả dạng dân thường trốn ra Bắc theo vua tìm kế khôi phục.
Viên tiểu tướng già nói:
- Đã đến nước này, hạ thần e dù vua em Quang Trung sống lại cũng phải bó tay. Sao ba vị tướng quân không tìm cách giữ thân.
Dũng trợn mặt quát:
- Bọn ta là đại tướng sống chết với vua với nước. Người mau đi ngay chờ buông lời gièm xiểm, kẻo ta cho một đao rụng đầu.
Viên tiểu tướng già không hề sợ hãi, một lần nữa khóc lậy rồi bịn rịn ra đi. Diệu, Dũng, Xuân còn lại mấy tên quân tin cẩn lại dắt dìu nhau lần hồi ra Bắc.
Ngày ấy ba người ra đến Nghệ An. Diệu sai một tên quân đi do thám địch tính. Hồi lâu quân về hớt hải bảo:
- Trần tướng quân ơi. Nguy rồi!
Diệu hỏi:
.- Việc gì là nguy.
Quân đáp:
- Khắp thành Nghệ An đều dán cáo thị rằng: Vua Gia Long đã bắt được Trần mẫu và lệnh ái. Nếu Trần tướng quân và Bùi đô đốc ra hàng, vua Gia Long sẽ tha mạng cho mẹ và con, bằng không sẽ xử tội lăng trì.
Bùi Thị Xuân giật mình nói:
- Không ngờ Nguyễn Phúc Ánh bắt mẹ và con ta để gọi ta ra hàng. Phu quân ơi! Giờ phải liệu thế nào?
Diệu điềm nhiên đáp:
- Vợ chồng ta chỉ còn một cách ra hàng để cứu mẹ và con mà thôi.
Dũng trợn mắt hỏi:
- Trần huynh mong vẹn chứ hiểu, con chữ trung thì sao?
Diệu buồn rầu đáp:
- Diệu tôi đâu phải kẻ bất trung, dù có theo vua cũng đã sức cùng lực kiệt còn mộng gì xoay chuyển đại cuộc, nên chỉ còn cách ấy mà thôi. Vậy Vũ huynh liệu thế nào.
Dũng tức tối đáp:
- Tôi phải ra Bắc gặp vua mưu việc khôi phục. Dù chết cũng không hàng thằng tiểu nhân Phúc Ánh!
Nói xong Diệu, Dũng ôm nhau mà khóc rồi vĩnh biệt nhau đường ai nấy đi! Vũ Văn Dũng đi rồi, tuy tướng Bùi Thị Cúc nói với Diệu, Xuân rằng:
- Nhị vị chủ tướng vì chữ hiếu phải ra hàng giặc. Còn tôi chỉ chết vì chủ, cớ gì phải chịu nhục.
Nói xong Bùi Thị Cúc rút dao đâm cổ tự vẫn. Bùi Thị Xuân hết lên hai tiếng: "Em ơi", rồi ôm thây Cúc khóc thảm thiết.
Chôn Bùi Thị Cúc xong, Xuân bước đến vỗ vào vòi voi một ngà khóc rằng:
- Và chồng ta ra hàng giặc, nhận lấy cái chết để cứu mẹ giá, vậy ngươi hãy về với rừng sâu núi thẳm đừng quyến luyến làm gì. Tiên đế mất đi nên nghĩa cả bất thành, ấy là do lòng trời vậy. Công của ngươi giúp vua dựng nước hãy còn sử xanh ở đó.
Với một ngã quỳ xuống chạy hai hàng nước mắt, dập đầu lậy Thị Xuân ba lậy rồi rống lên một tiếng vang dội núi rừng. Đoạn voi đứng lên lao đầu vào vách núi mà chết.
Vợ chồng Diệu, Xuân thương tiếc ôm xác voi một ngà mà khóc sướt mướt. Khóc đến cạn khô nước mắt, vợ chồng dắt nhau đi trên lá khô xào xạc nơi núi rừng quạnh quẻ, đến thành Nghệ An hàng quân Nguyễn Gia Miêu.
Nói về tướng Gia Miêu giữ thành Nghệ An là Đặng Trần Thường, bắt được Diệu, Xuân rồi, Thường cả mừng bảo quân:
- Mau đem giảm vào đại lao chờ bắt được Vũ Văn Dũng rồi cùng giải về kinh cho vua ta trị tội.
Phần Vũ Văn Dũng giả dạng dân thường tìm đường ra Bắc. Ngày kia Dũng ghé vào một quán nước bên đường nghe dân chúng trong quán bàn với nhau rằng: Tướng Nguyễn Gia Miêu là Lê Văn Duyệt và Lê Chất đem bộ quân, còn Nguyễn Văn Trương đem quân thuỷ tiến đánh Thanh Hoá. Gặp tướng Đặng Xuân Phong giữ mặt bộ, Nguyễn Văn Lộc giữ mật thuỷ nên quân Gia Miêu đánh mai không được. May thay Nguyễn Văn Lộc bỗng dưng lâm bạo bệnh mà mất đột ngột, vậy mặt thuỷ không còn tướng tài trân giữ, tất sớm muộn gì quân ta cũng chiếm được Thanh Hoá.
Nghe đến đây Vũ Văn Dũng vùng ngửa mặt lên trời hét rằng:
- Ấy thật là trời muốn diệt nhà Tây Sơn ta rồi đó!
Trong đám khách ở quán có hai người bàn nhỏ với nhau:
- Ngươi nổi cáu vừa rồi ắt phải là tướng Tây Sơn. Ta liền bảo quan quân đến bắt mà lãnh thưởng.
Người kia hỏi:
- Vậy nên vào Nghệ An báo cùng quan trấn thủ Đặng Trần Thường chăng.
Người nọ đáp:
- Nơi này giáp Thanh Hoá, tướng Lê Chất và Lê Văn Duyệt đang đóng đại bản doanh đánh nhau với giặc Tây Sơn. Ta đến đấy phi báo sẽ gần hơn.
Nói đoạn chia nhau, người theo dõi Văn Dũng người vội vàng đi báo quan quân. Nhận được tin bảo, Lê Chất hỏi tên dân:
- Người ấy hình dáng thế nào.
Tên dân đáp:
- Người này thân hình cao lớn, mắt xếch, râu quai nón, trong bộ dạng rất hùng dũng.
Lê Chất giật mình nói:
- Nhận dạng người này giống như Vũ Văn Dũng. Nhưng Vũ Văn Dũng sao lại lưu lạc một mình giả dạng dân thường như thế. Thật là vô lý?
Chất vừa dứt lời, xảy quân vào báo:
- Trấn thủ Nghệ An là Đặng Trần Thường báo rằng tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân đã ra hàng, xin tướng quân đón đường bắt Vũ Văn Dũng.
Nghe xong Lê Văn Duyệt vỗ đùi bảo:
- Vậy người này chính là Vũ Văn Dũng.
Đoạn Duyệt lại giật mình nói:
- Ta nghe Văn Dũng rất giỏi đánh đại đao đến nỗi thiên hạ thương báo rằng: Thắng hổ trên rừng đễ, thắng đao Văn Dũng khó. Vậy ta nên dùng súng mà bắn nó cho xong.
Nghe vậy Lê Chất liền hỏi tên dân:
- Ngươi có thấy người ấy đem theo vũ khí gì chăng?
Tên dân đáp:
- Không mang theo binh khí gì cả.
Chất quay sang bàn cũng Lê Văn Duyệt:
- Vũ Văn Dũng có đại đao trong tay là vô địch thiên hạ. Nhưng nay Dũng không mang theo vũ khí thì có đáng ngại gì, tướng quân chỉ cần mang theo vài mươi võ sĩ là bắt được Văn Dũng mà thôi.
Lê Văn Duyệt khen phải liền đích thân đem trăm quân tin cẩn đến quán trọ bắt Vũ Văn Dũng.
Đêm ấy Dũug mệt mỏi ngủ vùi trong quán trọ. Lê Văn Duyệt bí mật dẫn võ sĩ đến tận giường kề gươm vào cổ rồi hô quân trói lại giải đi. Về đền đại bản doanh Lê Văn Duyệt bảo quân tin cẩn:
- Mau áp giải tên tướng giặc này đến Nghệ An, rồi bắt luôn vợ chồng Diệu, Xuân đưa vào Phú Xuân cho vua ta trị tội. Đồng thời bảo Đặng Trần Thường hội quân Bắc tiến.
Quân vâng lệnh đi ngay. Duyệt lại sai bày yến tiệc cũng Lê Chất uống rượu ăn mừng. Rượu ngà ngà Duyệt hỏi Chất:
- Nếu tôi sai ông đi bắt Vũ Văn Dũng thì ông sẽ làm thế nào?
Chất đáp:
- Tôi sẽ xin tướng quân để được không đi.
Duyệt cười bảo:
- Biết ý ông thế nên tôi mới đích thân đi bắt Vũ Văn Dũng đó. Ông cũng là một bậc đại trượng phu vậy!
Đoạn Duyệt lại hỏi:
- Hiện ta còn bao nhiêu tên tù binh Tây Sơn.
Chất thẹn thùng đáp:
- Còn năm trăm tên.
Duyệt bảo:
- Bọn ta mau đến nơi nhốt tù.
Đến trại tù, Duyệt vờ say rượu lớn tiếng với bọn tù bình rằng:
- Ta vừa bắt được Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng giải về kinh cho vua ta trị tội. Diệu, Xuân, Dũng chết rồi thì nhà Tây Sơn hết người, vì vậy ta cho bọn bay muốn đi đâu thì đi.
Nơi xong Duyệt liền bảo quân thả hết tù binh Tây Sơn. Về trại Lê Chất khen Lê Văn Duyệt:
- Tướng quân liệu việc hơn người. Năm trăm tù binh được thả này sẽ đánh tan quân Nguyễn Văn Tuyết ở Thanh Hoá vậy.
Duyệt cười bảo:
- Thật là hiểu tôi không ai bằng ông Chất đó!
Nói rồi vui vẻ nâng cốc cũng Lê Chất
Muốn cứu mẹ, Trần Quang Diệu ra hàng.
Quyết theo vua, Vũ Văn Dũng bị bắt.
Nói về Nguyễn vương ở Phú Xuân nghe tin tướng Tây Sơn là Diệu và Dũng bỏ thành Quy Nhơn theo đường Thượng đạo rút quân ra Bắc; lắp tức cho hội bá quan văn võ, Nguyễn vương nói:
- Một dải giang sơn của nhà Nguyễn ta từ sông Linh Giang trở vào đã được khôi phục như xưa. Nay ta muốn đắp lại luỹ Trường Dục, dùng sông Linh Giang làm ranh giới không ra Bắc đánh Tây Sơn nữa. Chẳng hay ý các khanh thế nào?
Đặng Đức Siêu thất kinh bước ra thưa:
- Nay quân ta khí thế đang hăng, giặc Tây Sơn nghe hơi khiếp đảm chưa đánh đã tan. Lúc này là lúc ta nên thừa thắng kéo quân ra Bắc diệt giặc, sao Thượng vương lại định dùng sông Linh Giang là ranh giới mà bộ mất thời cơ thống nhất sơn hà!
Nguyễn vương xua tay bảo:
- Ta kéo quân ra Bắc diệt giặc Tây Sơn rồi Hoàng tộc vua Lê lại đòi đất của họ từ sông Linh Giang ra thì có phải là ta tốn công vô ích hay chăng?
Đặng Đức Siêu mỉm cười thưa:
- Hạ thần xin hiến một kế khiến cho Hoàng tộc nhà Lê không thể đòi lại đất Bắc được.
Nguyễn vương miễn cưỡng hỏi:
- Kế thế nào?
Siêu đáp:
- Nguyễn vương hãy lên ngôi Hoàng đế rồi kéo quân ra Bắc đánh giặc Tây Sơn. Vậy là ta đoạt nước trong tay nhà Tây Sơn, và Hoàng tộc nhà Lê thấy Thượng vương đã lên làm vua tất hiểu rằng là ta không có ý diệt Tây Sơn để phò Lê thì làm gì mà dám đòi lại nước.
Mỗi người đồng thanh khen:
- Đặng tiên sinh thật là cao kiến! Xin Thượng vương hãy lên ngôi Hoàng đế!
Nguyễn vương liền xua tay áo:
- Ta tại sớ đức kém sao dám lên ngôi. Việc này thật không nên.
Siêu lại tâu:
- Thượng vương quy tụ mưu thần, dùng tướng đi đến đâu giặc Tây Sơn tan đến đấy sao bảo là tại số? Hiện nay nhân dân khắp trong nước truyền từng ca hát rằng:
Lậy trời cho chóng gió Nồm.
Cho thuyền Chúa Nguyễn giong buồm thẳng ra.
chứng tỏ bá tánh đều trông về Thượng vương thì sao bảo là đức kém? Xin Thượng vương trước hay lên ngôi cho an lòng tướng sĩ rồi đem quân Bắc tiến diệt Tây Sơn.
Bá quan văn võ đều quỳ xuống đồng thanh tâu:
- Xin Thượng vương hay lên ngôi cho an lòng trăm họ!
Nguyễn vương nhíu mày suy nghĩ giây lâu rồi bảo:
- Vì sự nghiệp thống nhất giang sơn ta đánh phải lên ngôi chứ thật lòng không muốn.
Các quan mừng rỡ cùng cúi lậy tung hô vạn tuế.
Tháng năm, năm Nhâm Tuất (1802) Nguyễn vương Phúc Ánh lập đàn tế cáo trời đất, lên ngôi Hoàng đế lấy đế hiệu là Gia Long đất tên nước là Việt Nam(*).
(*) Sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh cử sứ sang nhà Thanh xin phong vương và đổi tên nước là Nam Việt. Nhà Thanh cho rằng tên nước sẽ lẫn với nước của Triệu Đà (gồm cả Đông Việt, Tây Việt) nên đổi tên là Việt Nam.
Lên ngôi xong, vua Gia Long liền truyền lệnh xuất quân ra Bắc đánh Tây Sơn. Đặng Bức Siêu hỏi:
- Xưa nay các bậc thánh nhân khi lên ngôi chí tôn đều mở hội ăn mừng, đại xá thiên hạ. Hoàng thượng mới lên ngôi chúa làm việc ấy sao đã vội xuất chinh?
Vua Gia Long đáp:
- Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đã bỏ thành Bình Định kéo quân ra Bắc hợp quân với Cảnh Thịnh. Nếu để vua tôi chúng gặp nhau thì thật là bất lợi cho ta. Nên ta phải lập tức xuất quân chặn đường ra Bắc và đón bắt Diệu, Dũng. Trừ được hai tên này thì giặc Tây Sơn chưa đánh mà tan vậy.
Siêu lại hỏi:
- Đường Thượng đạo là do Trần Quang Diệu theo lối mòn của ngươi Thượng đi lại vài nhau mãi mà ra. Đường này núi non hiểm trở, người Thượng lại hết lòng giúp giặc Tây Sơn. Sao ta có thể chặn đường đó bắt Diệu, Dũng được?
Vua Gia Long cười đáp:
- Chính vậy nên mới phải lập tức xuất quân. Nếu ta chiếm được nơi này trước thì Diệu, Dũng ắt cùng đường.
Siêu lại hỏi:
- Ấy là nơi nào?
Vua Gia Long kề tai Siêu nói nhỏ. Nghe xong Siêu khen:
- Hoàng thượng liệu việc hơn người. Hạ thần xin bái phục!
Vua Gia Long liền hạ lệnh toàn quân theo hai đường thuỷ, bộ rầm rộ tiến quân ra Bắc.
Nói về tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng bỏ thành Quy Nhơn theo đường Thượng đạo định rút quân ra Bắc. Diệu thúc quân đi ngày đêm không nghỉ. Dũng bàn với Diệu rằng:
- Đường Thượng đạo núi non hiểm trở, quân ta lại mệt mỏi. Sao Trần huynh lại hôi quân đi gấp thế, ráng quân ta không chịu nói.
Diệu buồn bã than:
- Tôi vẫn biết vậy, những nếu quân ta đi chậm hơn Nguyễn Phúc Ánh là ta cùng đường đó.
Dũng lo lắng hỏi:
- Thế nào là chậm hơn Nguyễn Phúc Ánh?
Diệu thở dài đáp:
- Đường Thượng đạo chỉ ra đến Nghệ An là hết. Nếu Nguyễn Phúc Ánh tiến quân đánh lấy Nghệ an trước là ta không còn đường ra Bắc. Chính vì vậy mà ta phải hội quân đi mau lên mới được.
Dũng rầu rĩ bảo:
- Nhưng quân ta vừa mệt vừa đói, vả lại trời ở tối, ta nên dừng quân nghỉ ngơi mai hãy đi tiếp.
Diệu lại thở dài nói:
- E rằng ta đi chậm hơn Nguyễn Phúc Ánh mất. Nhưng đành phải thế mà thôi.
Nói xong Diệu, Dũng lệnh quân hạ trại nghỉ ngơi. Sáng hôm sau Diệu đến trại Dũng gọi:
- Vụ huynh mau dậy lên đường mau!
Diệu vừa dứt lời, quân vào báo:
- Thưa tướng quân, quân ta đói khát mệt mỏi, tinh thần rã rời, thừa đêm tối đã bỏ trốn hơn một nửa.
Dũng bảo quân:
- Ai bỏ trốn thì thôi không truy cứu làm gì. Còn lại lập tức lên đường.
Quân Tây Sơn lại trèo đèo lội suối mà đi, cực khổ trăm bề. Đi được một tháng đến vùng rừng núi thuộc đất Thuận Hoá, phía Tây kinh thành Phú Xuân, bỗng thấy hai viên nữ tướng từ hướng Bắc cưỡi voi đi đến. Vừa gặp nhau, hai người ấy liền nhảy khỏi bành voi, một người ôm lấy Diệu khóc kêu lên rằng:
- Phu quân ơi! Phu quân!
Diệu vội hỏi:
- Vua ta đâu, sao phu nhân lại đến nỗi này?
Bùi Thị Xuân gạt nước mắt đáp:
- Nguyễn Phúc Ánh đem binh tiến đánh kinh thành, thiếp có sức chống giữ. Chẳng dè vua bỏ trận mà chạy, quân hốt hoảng chạy theo. Kinh thành thất thủ. Thiếp và Bùi Thị Cúc đoạn hậu cho vua chạy ra Động Hải với Đặng Xuân Phong. Chị em thiếp bị Lê Văn Duyệt vây may mà phá vây thoát được, định theo đường Thượng đạo vào Quy Nhơn cũng phu quân và Vũ tướng quân. Nào ngờ gặp hai người ở đây...
Ngắt lời Xuân, Diệu hỏi:
- Vậy còn mẹ và con ta thế nào?
Xuân khóc lên đáp:
- Thiếp vì theo hộ giá Hoàng thượng nên không kịp đem theo mẹ và con. Hiện mẹ và con còn trong thành Phú Xuân không biết sống chết thế nào.
Trần Quang Diệu buông đao ngửa mặt lên trời than:
- Không ngờ bọn ta phải đến lúc nước mất nhà tan thế này.
Vũ Văn Dũng thở dài hỏi:
- Việc đến nước này Trần huynh, Bùi tỷ liệu tính làm sao?
Bùi Thị Xuân đáp:
- Nay ta phải gấp ra Nghệ An. Nếu để Phúc Ánh chiếm mất là ta không còn đường ra Bắc. E đại cuộc hỏng mất.
Nói đoạn ba tướng lại hối quân vượt núi băng rừng lặn lội mà đi. Lần hồi đến vùng rừng núi phía Tây Hà Trung (tính Hà Tĩnh ngày nay) Trần Quang Diệu bảo:
- Chỉ còn hơn trăm dặm nữa là đến Nghệ An. Ba quân hay cố gắng lên.
Diệu vừa dứt lời, bỗng từ trong bụi rậm một tên quân Tây Sơn chạy ra gào khóc kêu lên rằng:
- Tướng quân ơi! Tướng quân!
Dũng ngạc nhiên hỏi:
- Ngươi là quân nào. Sao lại gạo khóc lên như thế?
Tên quân quỳ lạy đáp:
- Hạ thân là quân Hà Trung dưới trướng của tướng quân Đặng Xuân Bảo. Hà Trung thất thủ tướng quân Đặng Xuân Bảo vì đi đoạn hậu cho vua ta chạy thoát nên chẳng may bị quân Gia Miêu bắt. hạ thần phải chạy trốn lên rừng, may mà gặp các vị tướng quân ở đây.
Bùi Thị Xuân xen vào hỏi:
- Vậy còn Đặng Xuân Phong trấn thủ đèo Hoành Sơn ở đâu mà quân Gia Miêu có thể tiến đánh Hà Trung được?
Tổn quân đáp:
- Tướng quân Đặng Xuân Phong trấn thủ đèo Hoành Sơn, hai tướng Gia Miêu là Lê Văn Duyệt v Lê Chất không tiến lên được. Nào ngờ đêm ấy tướng quân Đặng Xuân Phong lâm bạo bệnh mà mất thình lình nên giặc mới chiếm được ải Hoành Sơn rồi thừa thắng tiến đánh Hà Trung.
Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng nghe xong, đồng thanh thốt lên rằng:
- Thế là trời muốn tiệt nhà Tây Sơn ta rồi!
Đoạn Diệu hỏi:
- Hiện nay quân giặc đã tiến đến đâu rồi?
Tên quân đáp:
- Đã chiếm đất Nghệ An.
Diệu ngửa mặt than rằng:
- Thế là ta đã cùng đường rồi vậy!
Dũng nghiến răng bảo:
- Dù thế nào ta cũng phải tấn công chiếm là Nghệ An.
Diệu quay sang hỏi tả hữu:
- Quân ta hiện còn được bao nhiêu?
Tả hữu đáp:
- Thưa chỉ còn một vạn.
Diệu ngẫm nghĩ rồi bảo:
- Giặc đã chiếm Nghệ An thì ta không còn gì ở vội vàng nữa. Truyền quân hạ trại nghỉ ngơi rồi ngày mai tiến ra đánh Nghệ An.
Sang sớm hôm sau quân tin cẩn chạy vào báo cùng Diệu, Dũng:
- Quân ta nghe giặc chiếm đất Nghệ An hoảng sợ thừa đêm tối bỏ trốn gần hết, quân sĩ còn lại có hai ngàn người.
Trần Quang Diệu bảo:
- Truyền lệnh ta lập tức điểm binh.
Quân Tây Sơn tập hợp giữa một trảng cỏ tranh. Diệu, Dũng, Xuân thấy quân mình xanh xao gầy ốm, quần áo tả tơi, giáo gươm sứt mẻ thì lòng đau như cắt. Diệu buồn rầu nói:
- Nay Nguyễn Phúc Ánh đã chiếm mất Nghệ An là ta không còn đường ra Bắc theo vua, nếu đánh chiếm lại Nghệ An là điều không thể làm được. Ta nỡ đâu đưa các ngươi vào chỗ chết. Vậy nay ta giải tán quân binh, các ngươi hãy tìm đường trốn tránh về quê quán làm ăn và xin các ngươi đứng trách ta là tướng mà không bảo toàn được cho quân sĩ.
Nói đến đây Diệu ôm mặt khóc. Bùi Thị Xuân và Vũ Văn Dũng cầm lòng không được nức nở khóc theo. Hai ngàn quân Tây Sơn cũng quỳ xuống khóc lậy nói:
- Xin ba vị tướng quân bảo trọng!
Bỗng một viên tiểu tướng già bước ra gạt nước mắt rồi cầm tay Diệu, Dũng nói:
- Hạ thần theo tướng quân tứ lúc hai Tiên đế dấy nghĩa ở Tây Sơn, trước lúc chia tay xin có vài lời. Nhị vị tướng quân đem mười vạn bình vào đánh Võ Tánh và Ngô Tùng Châu chiếm lại thành Quy Nhơn, đến này quân lính bỏ trốn chỉ còn có hai ngàn người, chẳng phải quân ta vì cùng đường sợ chết bỏ tướng quân đi mà bởi vua ta nhu nhược hôn muội, gần kẻ nịnh thần làm điều tàn bạo giết hại tôi trung, khiến lòng người ly tán. Nếu chúng thần liều chết đánh lấy Nghệ An thu hồi vì chính nghĩa nào đây? Ấy chính là cái cơ diệt vong của nhà Tây Sơn ta vậy! Nay tướng quân cho chúng tôi đi, con ba vị tướng quân liệu tính thế nào?
Diệu ngẫm nghĩ đáp:
- Bọn ta giả dạng dân thường trốn ra Bắc theo vua tìm kế khôi phục.
Viên tiểu tướng già nói:
- Đã đến nước này, hạ thần e dù vua em Quang Trung sống lại cũng phải bó tay. Sao ba vị tướng quân không tìm cách giữ thân.
Dũng trợn mặt quát:
- Bọn ta là đại tướng sống chết với vua với nước. Người mau đi ngay chờ buông lời gièm xiểm, kẻo ta cho một đao rụng đầu.
Viên tiểu tướng già không hề sợ hãi, một lần nữa khóc lậy rồi bịn rịn ra đi. Diệu, Dũng, Xuân còn lại mấy tên quân tin cẩn lại dắt dìu nhau lần hồi ra Bắc.
Ngày ấy ba người ra đến Nghệ An. Diệu sai một tên quân đi do thám địch tính. Hồi lâu quân về hớt hải bảo:
- Trần tướng quân ơi. Nguy rồi!
Diệu hỏi:
.- Việc gì là nguy.
Quân đáp:
- Khắp thành Nghệ An đều dán cáo thị rằng: Vua Gia Long đã bắt được Trần mẫu và lệnh ái. Nếu Trần tướng quân và Bùi đô đốc ra hàng, vua Gia Long sẽ tha mạng cho mẹ và con, bằng không sẽ xử tội lăng trì.
Bùi Thị Xuân giật mình nói:
- Không ngờ Nguyễn Phúc Ánh bắt mẹ và con ta để gọi ta ra hàng. Phu quân ơi! Giờ phải liệu thế nào?
Diệu điềm nhiên đáp:
- Vợ chồng ta chỉ còn một cách ra hàng để cứu mẹ và con mà thôi.
Dũng trợn mắt hỏi:
- Trần huynh mong vẹn chứ hiểu, con chữ trung thì sao?
Diệu buồn rầu đáp:
- Diệu tôi đâu phải kẻ bất trung, dù có theo vua cũng đã sức cùng lực kiệt còn mộng gì xoay chuyển đại cuộc, nên chỉ còn cách ấy mà thôi. Vậy Vũ huynh liệu thế nào.
Dũng tức tối đáp:
- Tôi phải ra Bắc gặp vua mưu việc khôi phục. Dù chết cũng không hàng thằng tiểu nhân Phúc Ánh!
Nói xong Diệu, Dũng ôm nhau mà khóc rồi vĩnh biệt nhau đường ai nấy đi! Vũ Văn Dũng đi rồi, tuy tướng Bùi Thị Cúc nói với Diệu, Xuân rằng:
- Nhị vị chủ tướng vì chữ hiếu phải ra hàng giặc. Còn tôi chỉ chết vì chủ, cớ gì phải chịu nhục.
Nói xong Bùi Thị Cúc rút dao đâm cổ tự vẫn. Bùi Thị Xuân hết lên hai tiếng: "Em ơi", rồi ôm thây Cúc khóc thảm thiết.
Chôn Bùi Thị Cúc xong, Xuân bước đến vỗ vào vòi voi một ngà khóc rằng:
- Và chồng ta ra hàng giặc, nhận lấy cái chết để cứu mẹ giá, vậy ngươi hãy về với rừng sâu núi thẳm đừng quyến luyến làm gì. Tiên đế mất đi nên nghĩa cả bất thành, ấy là do lòng trời vậy. Công của ngươi giúp vua dựng nước hãy còn sử xanh ở đó.
Với một ngã quỳ xuống chạy hai hàng nước mắt, dập đầu lậy Thị Xuân ba lậy rồi rống lên một tiếng vang dội núi rừng. Đoạn voi đứng lên lao đầu vào vách núi mà chết.
Vợ chồng Diệu, Xuân thương tiếc ôm xác voi một ngà mà khóc sướt mướt. Khóc đến cạn khô nước mắt, vợ chồng dắt nhau đi trên lá khô xào xạc nơi núi rừng quạnh quẻ, đến thành Nghệ An hàng quân Nguyễn Gia Miêu.
Nói về tướng Gia Miêu giữ thành Nghệ An là Đặng Trần Thường, bắt được Diệu, Xuân rồi, Thường cả mừng bảo quân:
- Mau đem giảm vào đại lao chờ bắt được Vũ Văn Dũng rồi cùng giải về kinh cho vua ta trị tội.
Phần Vũ Văn Dũng giả dạng dân thường tìm đường ra Bắc. Ngày kia Dũng ghé vào một quán nước bên đường nghe dân chúng trong quán bàn với nhau rằng: Tướng Nguyễn Gia Miêu là Lê Văn Duyệt và Lê Chất đem bộ quân, còn Nguyễn Văn Trương đem quân thuỷ tiến đánh Thanh Hoá. Gặp tướng Đặng Xuân Phong giữ mặt bộ, Nguyễn Văn Lộc giữ mật thuỷ nên quân Gia Miêu đánh mai không được. May thay Nguyễn Văn Lộc bỗng dưng lâm bạo bệnh mà mất đột ngột, vậy mặt thuỷ không còn tướng tài trân giữ, tất sớm muộn gì quân ta cũng chiếm được Thanh Hoá.
Nghe đến đây Vũ Văn Dũng vùng ngửa mặt lên trời hét rằng:
- Ấy thật là trời muốn diệt nhà Tây Sơn ta rồi đó!
Trong đám khách ở quán có hai người bàn nhỏ với nhau:
- Ngươi nổi cáu vừa rồi ắt phải là tướng Tây Sơn. Ta liền bảo quan quân đến bắt mà lãnh thưởng.
Người kia hỏi:
- Vậy nên vào Nghệ An báo cùng quan trấn thủ Đặng Trần Thường chăng.
Người nọ đáp:
- Nơi này giáp Thanh Hoá, tướng Lê Chất và Lê Văn Duyệt đang đóng đại bản doanh đánh nhau với giặc Tây Sơn. Ta đến đấy phi báo sẽ gần hơn.
Nói đoạn chia nhau, người theo dõi Văn Dũng người vội vàng đi báo quan quân. Nhận được tin bảo, Lê Chất hỏi tên dân:
- Người ấy hình dáng thế nào.
Tên dân đáp:
- Người này thân hình cao lớn, mắt xếch, râu quai nón, trong bộ dạng rất hùng dũng.
Lê Chất giật mình nói:
- Nhận dạng người này giống như Vũ Văn Dũng. Nhưng Vũ Văn Dũng sao lại lưu lạc một mình giả dạng dân thường như thế. Thật là vô lý?
Chất vừa dứt lời, xảy quân vào báo:
- Trấn thủ Nghệ An là Đặng Trần Thường báo rằng tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân đã ra hàng, xin tướng quân đón đường bắt Vũ Văn Dũng.
Nghe xong Lê Văn Duyệt vỗ đùi bảo:
- Vậy người này chính là Vũ Văn Dũng.
Đoạn Duyệt lại giật mình nói:
- Ta nghe Văn Dũng rất giỏi đánh đại đao đến nỗi thiên hạ thương báo rằng: Thắng hổ trên rừng đễ, thắng đao Văn Dũng khó. Vậy ta nên dùng súng mà bắn nó cho xong.
Nghe vậy Lê Chất liền hỏi tên dân:
- Ngươi có thấy người ấy đem theo vũ khí gì chăng?
Tên dân đáp:
- Không mang theo binh khí gì cả.
Chất quay sang bàn cũng Lê Văn Duyệt:
- Vũ Văn Dũng có đại đao trong tay là vô địch thiên hạ. Nhưng nay Dũng không mang theo vũ khí thì có đáng ngại gì, tướng quân chỉ cần mang theo vài mươi võ sĩ là bắt được Văn Dũng mà thôi.
Lê Văn Duyệt khen phải liền đích thân đem trăm quân tin cẩn đến quán trọ bắt Vũ Văn Dũng.
Đêm ấy Dũug mệt mỏi ngủ vùi trong quán trọ. Lê Văn Duyệt bí mật dẫn võ sĩ đến tận giường kề gươm vào cổ rồi hô quân trói lại giải đi. Về đền đại bản doanh Lê Văn Duyệt bảo quân tin cẩn:
- Mau áp giải tên tướng giặc này đến Nghệ An, rồi bắt luôn vợ chồng Diệu, Xuân đưa vào Phú Xuân cho vua ta trị tội. Đồng thời bảo Đặng Trần Thường hội quân Bắc tiến.
Quân vâng lệnh đi ngay. Duyệt lại sai bày yến tiệc cũng Lê Chất uống rượu ăn mừng. Rượu ngà ngà Duyệt hỏi Chất:
- Nếu tôi sai ông đi bắt Vũ Văn Dũng thì ông sẽ làm thế nào?
Chất đáp:
- Tôi sẽ xin tướng quân để được không đi.
Duyệt cười bảo:
- Biết ý ông thế nên tôi mới đích thân đi bắt Vũ Văn Dũng đó. Ông cũng là một bậc đại trượng phu vậy!
Đoạn Duyệt lại hỏi:
- Hiện ta còn bao nhiêu tên tù binh Tây Sơn.
Chất thẹn thùng đáp:
- Còn năm trăm tên.
Duyệt bảo:
- Bọn ta mau đến nơi nhốt tù.
Đến trại tù, Duyệt vờ say rượu lớn tiếng với bọn tù bình rằng:
- Ta vừa bắt được Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng giải về kinh cho vua ta trị tội. Diệu, Xuân, Dũng chết rồi thì nhà Tây Sơn hết người, vì vậy ta cho bọn bay muốn đi đâu thì đi.
Nơi xong Duyệt liền bảo quân thả hết tù binh Tây Sơn. Về trại Lê Chất khen Lê Văn Duyệt:
- Tướng quân liệu việc hơn người. Năm trăm tù binh được thả này sẽ đánh tan quân Nguyễn Văn Tuyết ở Thanh Hoá vậy.
Duyệt cười bảo:
- Thật là hiểu tôi không ai bằng ông Chất đó!
Nói rồi vui vẻ nâng cốc cũng Lê Chất

Lê Dân- Kiếm Gỗ
- Tổng số bài gửi: 80
Join date: 02/03/2010
Đến từ: đâu ai biết
Re: Tây Sơn bi hùng truyện - Lê Đình Danh
Chương 68
Bởi vua hèn nhà Tây Sơn sụp đổ.
Cứu bạn xưa Đặng Văn Long cướp tù.
Nói về vua Tây Sơn là Cảnh Thịnh thua trận liên tiếp, nhờ các trung thần xả thân đoạn hậu nên chạy về được tới Thanh Hoá cùng quan trấn thủ Nguyễn Văn Tuyết. Ngày ấy Tuyết tâu với vua Cảnh Thịnh rằng:
- Nay Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng còn đang có thủ Quy Nhơn, nên Nguyễn Phúc Ánh chưa thể do toàn lực đánh ta ở Thanh Hoá. Nhờ vậy thần và Nguyễn Văn Lộc mới cầm cự được...
Tuyết vừa dứt lời xảy quân hớt hải chạy vào báo:
- Tâu Bệ hạ, tướng quân Nguyễn Văn Lộc đang giữ mặt bể bỗng lâm bạo bệnh qua đời rồi.
Cảnh Thịnh nghe qua khóc rống lên:
- Bởi tại ta ngu muội nghe lời gian nịnh, hãm hại trung thần khiến trời cao oán hận muốn diệt nhà Tây Sơn ta rồi vậy!
Nguyễn Văn Tuyết thất kinh nói:
- Nguyễn Văn Lộc mất rồi, mặt biển không người trấn giữ thì Thanh Hoá sao giữ được. Ta mau bỏ Thanh Hoá đem quân về trấn ải Tam Điệp mới xong.
Tuyết vừa dứt lời quân lại vào báo:
- Thưa tướng quân, tướng giặc là Lê Văn Duyệt đã thả mấy trăm quân của ta bị bắt làm tù binh ra về. Hiện họ đã đến đây xin vào gặp tướng quân.
Cho bọn ấy vào rồi, Nguyễn Văn Tuyết vểnh râu hỏi:
- Vì sao Lê Văn Duyệt lại tha cho các ngươi?
Mấy tên quỳ lạy thưa:
- Lê Văn Duyệt bảo Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng và Bùi Thị Xuân đều đã bị bắt thì chẳng cần giữ bọn tù binh như bọn thần làm gì nên mới tha cho về
Vua Cảnh Thịnh nghe vậy khóc rống lên rằng:
- Anh Diệu, chỉ Xuân ơi! Tướng quân Vũ Văn Dũng ơi! Chính vì ta mà các ngươi phải chết! Ôi! Tây Sơn thập hổ giờ chỉ còn lại Nguyễn Văn Tuyết và Võ Đình Tú mà thôi!
Nguyễn Văn Tuyết liền bảo quân:
- Truyền lệnh ta lập tức lui về giữ ải Tam Điệp.
Lúc lên đường, Tuyết dắt ngựa trao cho vua Cảnh Thịnh rồi nói:
- Đây là ngựa Xích kỳ ngày chạy ngàn dặm không biết mệt. Bệ hạ hay cưỡi nó chạy trước về Thăng Long bảo Võ Đình Tú lấy quân mười một trấn ở Bắc Hà đem vào giữ mặt biển Biện Sơn. Nếu chậm thì thần không thể nào giữ được ải Tam Điệp. Nếu mất Tam Điệp là đại cuộc ắt hỏng.
Cảnh Thịnh nghe lời liền lên ngựa ra roi. Quân Tây Sơn. đóng ở dọc đường ra Thăng Long thấy vua mình có trăm quan hộ vệ tất tả chạy về xầm xì bàn với nhau rằng:
- Con ngựa Xích kỳ này là của tướng quân Nguyễn Văn Tuyết, sao vua ta lại cưỡi chạy về? Hay tướng quân Nguyễn Văn Tuyết đã tử trận rồi. Nếu vậy quân ta sao chống được giặc?
Quân Tây Sơn hoang mang lo lắng truyền nhau như thế!
Vua Cảnh Thịnh vừa đến cổng Nam thành, bỗng cổng thành mở, Võ Đình Tú dẫn quân ra khói thành. Thấy vua, Tú xuống ngựa thi lễ. Cảnh Thịnh hỏi:
- Đình Tú đi đâu đó.
Từ đáp:
- Hạ thần ra thành duyệt binh định đem quân vào tiếp viện cho Nguyễn Văn Tuyết giữ Thanh Hoá.
Cảnh Thịnh vùng khóc rống lên rằng:
- Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng, Bùi Thị Xuân thua binh đều bị bắt. Nguyễn Văn Lộc lại lâm bạo bệnh qua đời. Nguyễn Văn Tuyết bỏ thành Thanh Hoá lui quân về giữ ải Tam Điệp. Võ Đình Tú hãy mau vào giữ cửa biển Biện Sơn. Nếu chận trễ mất Tam Điệp, Biện Sơn thì vùng đồng bằng Bắc Hà ta không thể đương đầu cùng giặc được.
Quân Tây Sơn đi theo Võ Đình Tú nghe vua Cảnh Thịnh nói xong hoảng sợ đưa mắt nhìn nhau. Võ Đình Tú vội bước đến gần Cảnh Thịnh nói nhỏ rằng:
- Việc không nên sợ mà sợ thì thiệt thân, việc không nên nói mà nói thì hại mạng. Bệ hạ nói ra điều ấy là quân ta rụng rời kinh sợ thì sao chống giặc được.
Cảnh Thịnh tỉnh ngộ nói:
- Ta thật là khờ khạo, xin tướng quân bỏ quá. Giờ tướng quân liệu thế nào?
Từ đáp:
- Bệ hạ hãy vào thành Thăng Long nghỉ ngơi. Thần phải vào tiếp viện cho Nguyễn Văn Tuyết.
Đoạn Tú quay lại bảo quân:
- Truyền lệnh ta đội ngũ chỉnh tề lập tức xuất quân.
Tả hữu khuyên Tú:
- Trời đã tối tướng quân nên hạ trại nghỉ ngơi ngày mai hãy tiến binh.
Tú bảo:
- Cứu quân như cứu hoả phải đi mau!
Nói xong Tú dẫn đầu quân Tây Sơn thẳng tiến Tam Điệp. Sáng sớm hôm sau hậu quân hớt hải chạy theo Đình Tú báo rằng:
- Quân ta nghe ba tướng Diệu, Dũng, Xuân bị bắt thì hoảng sợ thừa đêm tối trốn gần hết. Quân còn là chỉ có ngàn người. Xin tướng quân định liệu.
Võ Đình Tú ngửa mặt than:
- Tiên đế năm hai mươi tuổi đã tự lập dựng sự nghiệp, thân làm đại tướng biển nguy thành an. Nay con của Tiên đế cũng hai mươi tuổi được trao cho cả cơ đồ lại biển bình thành loạn vậy. Ta đi phen này thành bại đã rõ, những phải liều mình đền ơn Tiên đế.
Nói xong Tú vẫn cứ tiến quân.
Nhắc lại tướng Gia Miêu là Lê Văn Duyệt và Lê Chất, ngày ấy nghe quân thám mã về báo thành Thanh Hoá bỏ trống. Lê Văn Duyệt bên bảo Lê Chất và Đặng Trần Thường rằng:
- Nguyễn Văn Lộc chết, giặc Tây Sơn hết tướng nên Nguyễn Văn Tuyết mới bỏ Thanh Hoá về giữ ở Tam Điệp. Đặng Trần Thường mau đem quân hợp cùng Nguyễn Văn Trương rồi dùng thuỷ binh vào cửa Biện Sơn chặn phía sau ải Tam Điệp. Nguyễn Văn Tuyết cũng đường tất phải xin hàng.
Đặng Trần Thường khen là diệu kế rồi dẫn quân đi ngay. Nguyễn Văn Tuyết giữ ải Tam Điệp nghe quân thám mã về báo:
- Quân Gia Miêu đem thuỷ binh chiếm cửa Biện Sơn rồi đổ quân vây phía Bắc ải Tam Điệp. Xin tướng quân định liệu.
Nguyễn Văn Tuyết giật mình than:
- Vua ta đã chậm mất rồi. Truyền quân căn phòng cẩn mật chờ quân cầu viện.
Phần Võ Đình Tú đem ngàn quân đến núi Lính Sơn cách ải Tam Điệp năm mười dặm, bỗng nghe một phát pháo lệnh nổ vang, quân Gia Miêu từ hai bên sườn núi bắn tên xuống như mưa. Ngàn quân Tây Sơn bị tên chết hết cả. Đình Tú cầm lá đại kỳ có thêu bốn chữ vùng lên đỡ gạt liên hồi, không một mũi tên nào phạm được vào người Tú. Đặng Trần Thường trông thấy hỏi tả hữu:
- Võ Đình Tú cầm lá cờ có thêu chữ gì vậy.
Tả hữu đáp:
- Võ Đình Tú giỏi đánh côn đồng. Ngày trước lũ Nguyễn Huệ lên ngôi có tặng Võ Đình Tú lá cờ thêu bốn chữ "Thiết côn vô địch". Ấy chính là lá cờ Đình Tú đang dùng để gạt tên đó!
Đặng Trần Thường cười bảo quân:
- Mau tập trung súng mà bắn xem thử "Thiệt côn vô địch" có đỡ gạt được không.
Quân Gia Miêu theo lệnh Thường mà làm. Trúng đạn bị thương, Tú hét lên rằng:
- Tiên đế đi! Đình Tú tội đi vào chỗ chết để đền ơn Tiên đế!
Hét lên rồi lấy côn đồng đập vào đầu mà chết.
Phần Nguyễn Văn Tuyết chờ mãi không thấy quân cầu viện, Tuyết ngửa mặt than:
- Tiên đế ơi! Tuyết tôi nào tiếc thân mình, chỉ lo cho công lao dựng nghiệp của Tiên đế mà thôi!
Than rồi rút song đao cắt cổ tự vẫn!
***
Võ Đình Tú và Nguyễn Văn Tuyết chết rồi, các tướng Gia Miêu là Lê Văn Duyệt, Lê Chất lãnh bộ quân, Nguyễn Văn Trương, Đặng Tràn Thường đem thuỷ binh ồ ạt tiến ra Thăng Long. Quân Tây Sơn nghe tin kinh hoàng vứt gươm giáo bỏ trốn. Vua Cảnh Thịnh đem gia quyến và mấy người hầu giả lâm dân thường chạy trốn. Chạy đến bờ sông Như Nguyệt thì trời đã tối, thuyền bè lại không có để qua sông, em của Cảnh Thịnh là Quang Bàn mới mười ba tuổi bảo vua rằng:
- Ta nên vào nhà dân nghỉ tạm, mai hãy tìm đường sang kinh Bắc. Nhưng trong bất kỳ tình huống nào cũng không được để lộ tông tích.
Vua Cảnh Thịnh nghe lời liền men theo bờ sông tìm đến một ngôi nhà nhỏ. Vừa gõ cửa nhà ấy. Cửa mở, một người đàn ông thò đầu ra hỏi:
- Các ngươi là ai. Đang đêm gõ cửa có việc gì?
Cảnh Thịnh đáp:
- Chúng tôi là dân thường chạy loạn đến đây, xin ngủ nhờ một đêm ngày mai sẽ đi.
Người ấy bảo:
- Nhà vua có lệnh dân trong nước phải có thẻ bài "Thiên hạ đại tín", còn không có là kẻ gian. Nếu quý khách không có thẻ bài, thật tình tôi không dám chứa.
Cảnh Thịnh nghe vậy vui vẻ bảo:
- Nhà người thật là một công dân gương mẫu. Ta tuy không có thẻ bài những cổ vật này làm tin không phải là kẻ gian.
Nói xong Cảnh Thịnh mốc trong ngực áo ra một vật giở cho chủ nhà xem. Chủ nhà ngạc nhiên hỏi:
- Vật này là vật gì?
Cảnh Thịnh đáp:
- Ta là vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn. Đây là ngọc tỷ ấn.
Chủ nhà cười ha hả nói:
- Ta thấy bộ dạng của ngươi cao sang nghĩ là quân Tây Sơn chạy loạn nên mới mượn chuyện thẻ bài cho ngươi lộ tông tích, không ngờ lại là vua Tây Sơn. Anh em mau ra bắt nộp Chúa Nguyễn ắt là lãnh thưởng lớn.
Tên này vừa dứt lời, từ phía sau nhà mười người đàn ông lực lưỡng xông ra bắt anh em vua Cảnh Thịnh trói lại. Quang Bàn ngửa mặt khóc nói:
- Lúc nãy em đã dặn Hoàng huynh rồi. Sao Hoàng huynh lại nhẹ dạ cả tin thế.
Cảnh Thịnh điềm nhiên đáp:
- Anh em ta đã cũng đường mặt lộ, không bị bắt trước cũng bị bắt sau. Sống chết nào có kể chi, chỉ tiếc cho sự nghiệp của Phụ hoàng vì ta mà phải sụp đổ đấy thôi!
Nói xong Cảnh Thịnh tự chui vào cũi chỏ bọn người ấy khiêng giải đi.
Lê Văn Duyệt vào thành Thăng Long lại bắt được vua tôi Cảnh Thịnh. Duyệt bảo các tướng:
- Các võ tướng Tây Sơn đều đã bị diệt. Bọn quan văn trước lại là tôi thần của nhà Lê sau phò Nguyễn Huệ mà đứng đầu là Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích. Vậy ta nên giải Cảnh Thịnh và gia quyến về Phú Xuân cho vua ta trị tội, rồi xin lệnh người xem phải xử bọn ấy thế nào.
Đặng Trần Thường bước ra nói lớn:
- Việc cỏn con này mà phải xin lệnh ấy là làm nhọc lòng vua ta vậy. Theo tôi, ta cứ đem bọn ấy ra chém quách rồi báo với Hoàng thượng sau nào có can hệ gì.
Lê Văn Duyệt bàn:
- Không nên! Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích đều là danh sĩ Bắc Hà. Việc đối xử với họ đều có ảnh hưởng đến lòng dân xứ Bắc, ta không được từ tiện.
Đặng Trần Thường cố nài:
- Ta cứ chém bọn tôi thần nhà Lê theo về Tây Sơn. Nếu có gì tôi xin chịu tội trước vua.
Duyệt gạt đi bảo:
- Ta nghe nói lúc trước ông có hiếm với Ngô Thì Nhậm, nay muốn mượn việc nước báo tư thù nên mới một mực đòi chém chăng.
Nghe Duyệt nói đúng thâm ý mình, Đặng Trần Thường hổ thẹn nín thinh. Duyệt quay sang hỏi Lê Chất:
- Vậy ông Chất lãnh binh áp giải vua Tây Sơn về Phú Xuân được chăng?
Chất chối từ rằng:
- Việc này Chất tôi không đảm đương nổi.
Duyệt ngạc nhiên hỏi:
- Cảnh Thịnh bất tài lại ngồi trong tù xa, còn ông lãnh binh mà áp giải, sao bảo là không làm nổi.
Chất cúi đầu đáp:
- Tôi gần đây trong người không khỏe, e đi xa không tiện. Xin tướng quân cứ người khác thay cho.
Duyệt cười bảo:
- Vua ta vốn căm thù vua Tây Sơn đến tận xương tuỷ. Ông trước là tướng Tây Sơn về đầu, nên tôi mới bảo ông áp giải vua Tây Sơn về nộp để lập công trước là cho vua ta tin tưởng, sau là trả được thù cha. Cơ hội này dù không được khỏe ông cũng cố mà đi mới phải chứ.
Chất đến gần Duyệt nói nhỏ:
- Cám ơn tướng quân thương tình giúp đỡ. Nhưng bắt chúa cũ nộp cho Chúa mới thật lòng tôi không nỡ.
Duyệt liền quay sang bảo Nguyễn Văn Trương:
- Ông mau lãnh binh áp giải Cảnh Thịnh về Phú Xuân và xin lệnh vua xem nên xử Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích thế nào?
Nguyễn Văn Trương lãnh lệnh đi ngay.
Lúc ấp giải tù, vua Cảnh Thịnh ngồi trong tù xa nói vọng ra với Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Trương:
- Ngựa Xích kỳ không có tội gì, lại là tuấn mã hiện có trên đồi. Các ngươi giữ để dùng, đừng giết đi mà uống.
Lê Văn Duyệt bảo Nguyễn Văn Trương:
- Ngựa Xích kỳ xưa là của Chúa Võ vương về sau bị Nguyễn Văn Tuyết cướp đi. Nay ông nên cưỡi nó về trả cho vua ta, tuỳ người xử sự.
Nguyễn Văn Trương nhảy lện lưng ngựa Xích kỳ toan cưỡi, chẳng dè ngựa lồng lên hát Trương té nhào xuống đất. Ai đến gần ngựa cũng lông lên tung võ đã túi bụi. Cảnh Thịnh ngồi trong tù xa nói vòng ra:
- Ai muốn cưỡi nó cứ gọi nó là Phí Mã đại tướng quân nó khắc sẽ cho lên lưng.
Trường đến gần ngựa nói lớn:
- Phí Mã đại tướng quân! Phí Mã đại tướng quân!
Ngựa Xích kỳ liền cúi đầu ngoan ngoãn cho Trương cưỡi đi. Đi đến ải Tam Điệp, Trương hôi Cảnh Thịnh:
- Vì sao gọi Phí Mã đại tướng quân, nó lại cho cưỡi.
Cảnh Thịnh đáp:
- Ngày trước đánh thành Quy Nhơn, bác ta là vua Thái Đức đã phong nó chức Phí Mã đại tướng quân.
Trương cười bảo:
- Nay ta gọi nó là phí mã đại tướng quân nó lại cho ta cưỡi, còn chủ nó ngồi trong tù xa.
Trường vừa dứt lời, ngựa Xích kỳ đã lồng lên hất Trường xuống đất. Nó phủ phục cạnh một xác mặc bô khôi giáp. Thấy ngựa Xích kỳ chảy hai hàng nước mắt, Trương giật mình bảo:
- Bên áo giáp có cặp song đao. Vậy xác kia là của Nguyễn Văn Tuyết chăng?
Trương vừa dứt lời, ngựa Xích kỳ kêu lên ai oán rồi từ trên đèo cao tung bốn vó nhảy xuống vực sâu mà chết. Cảnh Thịnh gạt nước mắt nói:
- Nguyễn Văn Tuyết mới là chủ của nó!
***
Nói về quân Nguyễn Gia Miêu đóng tù xa giải Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng và Bùi Thị Xuân từ Nghệ An về Phú Xuân. Nam trăm quân Gia Miêu giáo gươm rầm rộ đưa đoàn tử tù đến đĩa phận ải Hoành Sơn. Bỗng từ trong núi xông ra một toán vài mươi người, đi đầu toán quân này là một người bịt mặt sử dụng phương thiên hoạ kích. Hai bên xông vào giáp chiến, bọn cướp võ nghệ cao cường lại thêm kẻ cầm đầu dũng mãnh một mình đánh cả trăm quân như vào chỗ không người. Thoáng chốc quân Gia Miêu tan vỡ bỏ chạy lên ải Hoành Sơn. Ngươi bịt mặt phá cũi giải thoát cho Diệu, Xuân, Dũng. Ra khỏi cúi Vũ Văn Dũng hỏi:
- Có phải là Tứ sư đệ đó chăng?
Người bịt mặt tháo khăn rồi khóc đáp:
- Đệ chính là Đặng Văn Long đây!
Bốn người ôm nhau mừng mừng tủi tủi. Dũng lại hỏi:
- Từ ngày đệ bỏ vua mà đi, rồi trú ẩn nơi nào? Sao biết bọn ta bị bắt mà đến cứu?
Văn Long đáp:
- Tôi vì bất đắc dĩ mới về chốn non cao núi thẳm vẫn nghe việc vua hèn nhu nhược, lòng người ly tán quân ta bại trận khắp nơi. Nghe các anh chị bị bắt giải về Phú Xuân tôi quy tụ vài mươi thủ hạ chặn đường giải thoát. Thôi! Chúng ta mau tránh đi kéo quân ở ải Hoành Sơn kéo xuống thì nguy.
Trần Quang Diệu bái tạ Văn Long rồi nói:
- Vợ chồng tôi ra hàng Phúc Ánh là để cứu mẹ và con đang bị bắt giam ở Phú Xuân. Nếu chúng tôi tẩu thoát ắt mẹ tôi phải chết. Thôi Vũ huynh và Văn Long hãy đi mau, tôi ở lại cho địch quân đến bắt.
Văn Dũng, Văn Long không nỡ bỏ đi. Bùi Thị Xuân giục:
- Tôi tội chết là đáng lắm, còn thương tiếc mà bị rịn làm chi.
Văn Long hỏi:
- Bùi tỷ nữ nhi anh kiệt, một lòng vì nước sao bảo là có tội
Xuân gạt nước mắt đáp:
- Nếu tôi không tha mạng Phúc Ánh ở Hàm Luông và nghe lời Tiên đế giết chú ruột của tôi là Bùi Đắc Tuyên thì nhà Tây Sơn ta làm gì mất nước. Sao bảo là tôi không có tội. Quân từ ải Hoành Sơn đã kéo xuống kia! Hai người mau đi cho!
Văn Dũng, Văn Long thấy vợ chồng Diệu, Xuân đá quyết không biết làm sao đành tránh mặt vào rừng. Trông chỗ nấp ngó ra thấy Diệu, Xuân ngoan ngoãn để cho quân Gia Miêu bắt giải đi, Dũng ứa nước mắt nói:
- Thương thay Trần huynh, Bùi tỷ! Tận trung chí hiếu như thế là cùng!
Rồi quay sang Long, Dũng hỏi:
- Ngày Tây Sơn dấy nghĩa thầy ta đoán câu sấm "Phụ Nguyễn phục thống" là một dòng họ Nguyễn khác sẽ thống nhất sơn hà, nên mới bảo đại sư huynh ta đổi họ Hồ ra họ Nguyễn. Nay nhà Nguyễn Tây Sơn của ta mất nước, vậy hoá ra câu sấm ấy là sai hay sao?
Đặng Văn Long đáp:
- Cơ trời biến hoá không lường, nếu đoán trước được sao bảo là cơ trời. Nay sự đã rõ, không phải câu sấm không dùng mà là thấy ta đã đoán sai.
- Vậy thế nào là đúng.
- Theo tôi câu "Phụ Nguyễn phục thống" là một nhánh phụ của dòng họ Nguyễn sẽ thống nhất sơn hà. Nay Nguyễn Phúc Ánh không phải dòng đích tôn chính thống đã làm nên việc này, thế chẳng phải là cậu sấm ấy đã ứng rồi ư?
Văn Dũng lại hỏi:
- Anh em ta mất nước nhà tan, giờ phải đi về đâu.
Long đáp:
- Ta theo đường Thượng đạo về Tây Sơn thượng nương náu với người Thượng thì lo gì địch tìm ra tung tích.
Văn Dũng than:
- Giờ chỉ còn cách ấy mà thôi.
Nói rồi Dũng và Long bằng rừng vượt núi về Tây Sơn thượng.
Bởi vua hèn nhà Tây Sơn sụp đổ.
Cứu bạn xưa Đặng Văn Long cướp tù.
Nói về vua Tây Sơn là Cảnh Thịnh thua trận liên tiếp, nhờ các trung thần xả thân đoạn hậu nên chạy về được tới Thanh Hoá cùng quan trấn thủ Nguyễn Văn Tuyết. Ngày ấy Tuyết tâu với vua Cảnh Thịnh rằng:
- Nay Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng còn đang có thủ Quy Nhơn, nên Nguyễn Phúc Ánh chưa thể do toàn lực đánh ta ở Thanh Hoá. Nhờ vậy thần và Nguyễn Văn Lộc mới cầm cự được...
Tuyết vừa dứt lời xảy quân hớt hải chạy vào báo:
- Tâu Bệ hạ, tướng quân Nguyễn Văn Lộc đang giữ mặt bể bỗng lâm bạo bệnh qua đời rồi.
Cảnh Thịnh nghe qua khóc rống lên:
- Bởi tại ta ngu muội nghe lời gian nịnh, hãm hại trung thần khiến trời cao oán hận muốn diệt nhà Tây Sơn ta rồi vậy!
Nguyễn Văn Tuyết thất kinh nói:
- Nguyễn Văn Lộc mất rồi, mặt biển không người trấn giữ thì Thanh Hoá sao giữ được. Ta mau bỏ Thanh Hoá đem quân về trấn ải Tam Điệp mới xong.
Tuyết vừa dứt lời quân lại vào báo:
- Thưa tướng quân, tướng giặc là Lê Văn Duyệt đã thả mấy trăm quân của ta bị bắt làm tù binh ra về. Hiện họ đã đến đây xin vào gặp tướng quân.
Cho bọn ấy vào rồi, Nguyễn Văn Tuyết vểnh râu hỏi:
- Vì sao Lê Văn Duyệt lại tha cho các ngươi?
Mấy tên quỳ lạy thưa:
- Lê Văn Duyệt bảo Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng và Bùi Thị Xuân đều đã bị bắt thì chẳng cần giữ bọn tù binh như bọn thần làm gì nên mới tha cho về
Vua Cảnh Thịnh nghe vậy khóc rống lên rằng:
- Anh Diệu, chỉ Xuân ơi! Tướng quân Vũ Văn Dũng ơi! Chính vì ta mà các ngươi phải chết! Ôi! Tây Sơn thập hổ giờ chỉ còn lại Nguyễn Văn Tuyết và Võ Đình Tú mà thôi!
Nguyễn Văn Tuyết liền bảo quân:
- Truyền lệnh ta lập tức lui về giữ ải Tam Điệp.
Lúc lên đường, Tuyết dắt ngựa trao cho vua Cảnh Thịnh rồi nói:
- Đây là ngựa Xích kỳ ngày chạy ngàn dặm không biết mệt. Bệ hạ hay cưỡi nó chạy trước về Thăng Long bảo Võ Đình Tú lấy quân mười một trấn ở Bắc Hà đem vào giữ mặt biển Biện Sơn. Nếu chậm thì thần không thể nào giữ được ải Tam Điệp. Nếu mất Tam Điệp là đại cuộc ắt hỏng.
Cảnh Thịnh nghe lời liền lên ngựa ra roi. Quân Tây Sơn. đóng ở dọc đường ra Thăng Long thấy vua mình có trăm quan hộ vệ tất tả chạy về xầm xì bàn với nhau rằng:
- Con ngựa Xích kỳ này là của tướng quân Nguyễn Văn Tuyết, sao vua ta lại cưỡi chạy về? Hay tướng quân Nguyễn Văn Tuyết đã tử trận rồi. Nếu vậy quân ta sao chống được giặc?
Quân Tây Sơn hoang mang lo lắng truyền nhau như thế!
Vua Cảnh Thịnh vừa đến cổng Nam thành, bỗng cổng thành mở, Võ Đình Tú dẫn quân ra khói thành. Thấy vua, Tú xuống ngựa thi lễ. Cảnh Thịnh hỏi:
- Đình Tú đi đâu đó.
Từ đáp:
- Hạ thần ra thành duyệt binh định đem quân vào tiếp viện cho Nguyễn Văn Tuyết giữ Thanh Hoá.
Cảnh Thịnh vùng khóc rống lên rằng:
- Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng, Bùi Thị Xuân thua binh đều bị bắt. Nguyễn Văn Lộc lại lâm bạo bệnh qua đời. Nguyễn Văn Tuyết bỏ thành Thanh Hoá lui quân về giữ ải Tam Điệp. Võ Đình Tú hãy mau vào giữ cửa biển Biện Sơn. Nếu chận trễ mất Tam Điệp, Biện Sơn thì vùng đồng bằng Bắc Hà ta không thể đương đầu cùng giặc được.
Quân Tây Sơn đi theo Võ Đình Tú nghe vua Cảnh Thịnh nói xong hoảng sợ đưa mắt nhìn nhau. Võ Đình Tú vội bước đến gần Cảnh Thịnh nói nhỏ rằng:
- Việc không nên sợ mà sợ thì thiệt thân, việc không nên nói mà nói thì hại mạng. Bệ hạ nói ra điều ấy là quân ta rụng rời kinh sợ thì sao chống giặc được.
Cảnh Thịnh tỉnh ngộ nói:
- Ta thật là khờ khạo, xin tướng quân bỏ quá. Giờ tướng quân liệu thế nào?
Từ đáp:
- Bệ hạ hãy vào thành Thăng Long nghỉ ngơi. Thần phải vào tiếp viện cho Nguyễn Văn Tuyết.
Đoạn Tú quay lại bảo quân:
- Truyền lệnh ta đội ngũ chỉnh tề lập tức xuất quân.
Tả hữu khuyên Tú:
- Trời đã tối tướng quân nên hạ trại nghỉ ngơi ngày mai hãy tiến binh.
Tú bảo:
- Cứu quân như cứu hoả phải đi mau!
Nói xong Tú dẫn đầu quân Tây Sơn thẳng tiến Tam Điệp. Sáng sớm hôm sau hậu quân hớt hải chạy theo Đình Tú báo rằng:
- Quân ta nghe ba tướng Diệu, Dũng, Xuân bị bắt thì hoảng sợ thừa đêm tối trốn gần hết. Quân còn là chỉ có ngàn người. Xin tướng quân định liệu.
Võ Đình Tú ngửa mặt than:
- Tiên đế năm hai mươi tuổi đã tự lập dựng sự nghiệp, thân làm đại tướng biển nguy thành an. Nay con của Tiên đế cũng hai mươi tuổi được trao cho cả cơ đồ lại biển bình thành loạn vậy. Ta đi phen này thành bại đã rõ, những phải liều mình đền ơn Tiên đế.
Nói xong Tú vẫn cứ tiến quân.
Nhắc lại tướng Gia Miêu là Lê Văn Duyệt và Lê Chất, ngày ấy nghe quân thám mã về báo thành Thanh Hoá bỏ trống. Lê Văn Duyệt bên bảo Lê Chất và Đặng Trần Thường rằng:
- Nguyễn Văn Lộc chết, giặc Tây Sơn hết tướng nên Nguyễn Văn Tuyết mới bỏ Thanh Hoá về giữ ở Tam Điệp. Đặng Trần Thường mau đem quân hợp cùng Nguyễn Văn Trương rồi dùng thuỷ binh vào cửa Biện Sơn chặn phía sau ải Tam Điệp. Nguyễn Văn Tuyết cũng đường tất phải xin hàng.
Đặng Trần Thường khen là diệu kế rồi dẫn quân đi ngay. Nguyễn Văn Tuyết giữ ải Tam Điệp nghe quân thám mã về báo:
- Quân Gia Miêu đem thuỷ binh chiếm cửa Biện Sơn rồi đổ quân vây phía Bắc ải Tam Điệp. Xin tướng quân định liệu.
Nguyễn Văn Tuyết giật mình than:
- Vua ta đã chậm mất rồi. Truyền quân căn phòng cẩn mật chờ quân cầu viện.
Phần Võ Đình Tú đem ngàn quân đến núi Lính Sơn cách ải Tam Điệp năm mười dặm, bỗng nghe một phát pháo lệnh nổ vang, quân Gia Miêu từ hai bên sườn núi bắn tên xuống như mưa. Ngàn quân Tây Sơn bị tên chết hết cả. Đình Tú cầm lá đại kỳ có thêu bốn chữ vùng lên đỡ gạt liên hồi, không một mũi tên nào phạm được vào người Tú. Đặng Trần Thường trông thấy hỏi tả hữu:
- Võ Đình Tú cầm lá cờ có thêu chữ gì vậy.
Tả hữu đáp:
- Võ Đình Tú giỏi đánh côn đồng. Ngày trước lũ Nguyễn Huệ lên ngôi có tặng Võ Đình Tú lá cờ thêu bốn chữ "Thiết côn vô địch". Ấy chính là lá cờ Đình Tú đang dùng để gạt tên đó!
Đặng Trần Thường cười bảo quân:
- Mau tập trung súng mà bắn xem thử "Thiệt côn vô địch" có đỡ gạt được không.
Quân Gia Miêu theo lệnh Thường mà làm. Trúng đạn bị thương, Tú hét lên rằng:
- Tiên đế đi! Đình Tú tội đi vào chỗ chết để đền ơn Tiên đế!
Hét lên rồi lấy côn đồng đập vào đầu mà chết.
Phần Nguyễn Văn Tuyết chờ mãi không thấy quân cầu viện, Tuyết ngửa mặt than:
- Tiên đế ơi! Tuyết tôi nào tiếc thân mình, chỉ lo cho công lao dựng nghiệp của Tiên đế mà thôi!
Than rồi rút song đao cắt cổ tự vẫn!
***
Võ Đình Tú và Nguyễn Văn Tuyết chết rồi, các tướng Gia Miêu là Lê Văn Duyệt, Lê Chất lãnh bộ quân, Nguyễn Văn Trương, Đặng Tràn Thường đem thuỷ binh ồ ạt tiến ra Thăng Long. Quân Tây Sơn nghe tin kinh hoàng vứt gươm giáo bỏ trốn. Vua Cảnh Thịnh đem gia quyến và mấy người hầu giả lâm dân thường chạy trốn. Chạy đến bờ sông Như Nguyệt thì trời đã tối, thuyền bè lại không có để qua sông, em của Cảnh Thịnh là Quang Bàn mới mười ba tuổi bảo vua rằng:
- Ta nên vào nhà dân nghỉ tạm, mai hãy tìm đường sang kinh Bắc. Nhưng trong bất kỳ tình huống nào cũng không được để lộ tông tích.
Vua Cảnh Thịnh nghe lời liền men theo bờ sông tìm đến một ngôi nhà nhỏ. Vừa gõ cửa nhà ấy. Cửa mở, một người đàn ông thò đầu ra hỏi:
- Các ngươi là ai. Đang đêm gõ cửa có việc gì?
Cảnh Thịnh đáp:
- Chúng tôi là dân thường chạy loạn đến đây, xin ngủ nhờ một đêm ngày mai sẽ đi.
Người ấy bảo:
- Nhà vua có lệnh dân trong nước phải có thẻ bài "Thiên hạ đại tín", còn không có là kẻ gian. Nếu quý khách không có thẻ bài, thật tình tôi không dám chứa.
Cảnh Thịnh nghe vậy vui vẻ bảo:
- Nhà người thật là một công dân gương mẫu. Ta tuy không có thẻ bài những cổ vật này làm tin không phải là kẻ gian.
Nói xong Cảnh Thịnh mốc trong ngực áo ra một vật giở cho chủ nhà xem. Chủ nhà ngạc nhiên hỏi:
- Vật này là vật gì?
Cảnh Thịnh đáp:
- Ta là vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn. Đây là ngọc tỷ ấn.
Chủ nhà cười ha hả nói:
- Ta thấy bộ dạng của ngươi cao sang nghĩ là quân Tây Sơn chạy loạn nên mới mượn chuyện thẻ bài cho ngươi lộ tông tích, không ngờ lại là vua Tây Sơn. Anh em mau ra bắt nộp Chúa Nguyễn ắt là lãnh thưởng lớn.
Tên này vừa dứt lời, từ phía sau nhà mười người đàn ông lực lưỡng xông ra bắt anh em vua Cảnh Thịnh trói lại. Quang Bàn ngửa mặt khóc nói:
- Lúc nãy em đã dặn Hoàng huynh rồi. Sao Hoàng huynh lại nhẹ dạ cả tin thế.
Cảnh Thịnh điềm nhiên đáp:
- Anh em ta đã cũng đường mặt lộ, không bị bắt trước cũng bị bắt sau. Sống chết nào có kể chi, chỉ tiếc cho sự nghiệp của Phụ hoàng vì ta mà phải sụp đổ đấy thôi!
Nói xong Cảnh Thịnh tự chui vào cũi chỏ bọn người ấy khiêng giải đi.
Lê Văn Duyệt vào thành Thăng Long lại bắt được vua tôi Cảnh Thịnh. Duyệt bảo các tướng:
- Các võ tướng Tây Sơn đều đã bị diệt. Bọn quan văn trước lại là tôi thần của nhà Lê sau phò Nguyễn Huệ mà đứng đầu là Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích. Vậy ta nên giải Cảnh Thịnh và gia quyến về Phú Xuân cho vua ta trị tội, rồi xin lệnh người xem phải xử bọn ấy thế nào.
Đặng Trần Thường bước ra nói lớn:
- Việc cỏn con này mà phải xin lệnh ấy là làm nhọc lòng vua ta vậy. Theo tôi, ta cứ đem bọn ấy ra chém quách rồi báo với Hoàng thượng sau nào có can hệ gì.
Lê Văn Duyệt bàn:
- Không nên! Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích đều là danh sĩ Bắc Hà. Việc đối xử với họ đều có ảnh hưởng đến lòng dân xứ Bắc, ta không được từ tiện.
Đặng Trần Thường cố nài:
- Ta cứ chém bọn tôi thần nhà Lê theo về Tây Sơn. Nếu có gì tôi xin chịu tội trước vua.
Duyệt gạt đi bảo:
- Ta nghe nói lúc trước ông có hiếm với Ngô Thì Nhậm, nay muốn mượn việc nước báo tư thù nên mới một mực đòi chém chăng.
Nghe Duyệt nói đúng thâm ý mình, Đặng Trần Thường hổ thẹn nín thinh. Duyệt quay sang hỏi Lê Chất:
- Vậy ông Chất lãnh binh áp giải vua Tây Sơn về Phú Xuân được chăng?
Chất chối từ rằng:
- Việc này Chất tôi không đảm đương nổi.
Duyệt ngạc nhiên hỏi:
- Cảnh Thịnh bất tài lại ngồi trong tù xa, còn ông lãnh binh mà áp giải, sao bảo là không làm nổi.
Chất cúi đầu đáp:
- Tôi gần đây trong người không khỏe, e đi xa không tiện. Xin tướng quân cứ người khác thay cho.
Duyệt cười bảo:
- Vua ta vốn căm thù vua Tây Sơn đến tận xương tuỷ. Ông trước là tướng Tây Sơn về đầu, nên tôi mới bảo ông áp giải vua Tây Sơn về nộp để lập công trước là cho vua ta tin tưởng, sau là trả được thù cha. Cơ hội này dù không được khỏe ông cũng cố mà đi mới phải chứ.
Chất đến gần Duyệt nói nhỏ:
- Cám ơn tướng quân thương tình giúp đỡ. Nhưng bắt chúa cũ nộp cho Chúa mới thật lòng tôi không nỡ.
Duyệt liền quay sang bảo Nguyễn Văn Trương:
- Ông mau lãnh binh áp giải Cảnh Thịnh về Phú Xuân và xin lệnh vua xem nên xử Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích thế nào?
Nguyễn Văn Trương lãnh lệnh đi ngay.
Lúc ấp giải tù, vua Cảnh Thịnh ngồi trong tù xa nói vọng ra với Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Trương:
- Ngựa Xích kỳ không có tội gì, lại là tuấn mã hiện có trên đồi. Các ngươi giữ để dùng, đừng giết đi mà uống.
Lê Văn Duyệt bảo Nguyễn Văn Trương:
- Ngựa Xích kỳ xưa là của Chúa Võ vương về sau bị Nguyễn Văn Tuyết cướp đi. Nay ông nên cưỡi nó về trả cho vua ta, tuỳ người xử sự.
Nguyễn Văn Trương nhảy lện lưng ngựa Xích kỳ toan cưỡi, chẳng dè ngựa lồng lên hát Trương té nhào xuống đất. Ai đến gần ngựa cũng lông lên tung võ đã túi bụi. Cảnh Thịnh ngồi trong tù xa nói vòng ra:
- Ai muốn cưỡi nó cứ gọi nó là Phí Mã đại tướng quân nó khắc sẽ cho lên lưng.
Trường đến gần ngựa nói lớn:
- Phí Mã đại tướng quân! Phí Mã đại tướng quân!
Ngựa Xích kỳ liền cúi đầu ngoan ngoãn cho Trương cưỡi đi. Đi đến ải Tam Điệp, Trương hôi Cảnh Thịnh:
- Vì sao gọi Phí Mã đại tướng quân, nó lại cho cưỡi.
Cảnh Thịnh đáp:
- Ngày trước đánh thành Quy Nhơn, bác ta là vua Thái Đức đã phong nó chức Phí Mã đại tướng quân.
Trương cười bảo:
- Nay ta gọi nó là phí mã đại tướng quân nó lại cho ta cưỡi, còn chủ nó ngồi trong tù xa.
Trường vừa dứt lời, ngựa Xích kỳ đã lồng lên hất Trường xuống đất. Nó phủ phục cạnh một xác mặc bô khôi giáp. Thấy ngựa Xích kỳ chảy hai hàng nước mắt, Trương giật mình bảo:
- Bên áo giáp có cặp song đao. Vậy xác kia là của Nguyễn Văn Tuyết chăng?
Trương vừa dứt lời, ngựa Xích kỳ kêu lên ai oán rồi từ trên đèo cao tung bốn vó nhảy xuống vực sâu mà chết. Cảnh Thịnh gạt nước mắt nói:
- Nguyễn Văn Tuyết mới là chủ của nó!
***
Nói về quân Nguyễn Gia Miêu đóng tù xa giải Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng và Bùi Thị Xuân từ Nghệ An về Phú Xuân. Nam trăm quân Gia Miêu giáo gươm rầm rộ đưa đoàn tử tù đến đĩa phận ải Hoành Sơn. Bỗng từ trong núi xông ra một toán vài mươi người, đi đầu toán quân này là một người bịt mặt sử dụng phương thiên hoạ kích. Hai bên xông vào giáp chiến, bọn cướp võ nghệ cao cường lại thêm kẻ cầm đầu dũng mãnh một mình đánh cả trăm quân như vào chỗ không người. Thoáng chốc quân Gia Miêu tan vỡ bỏ chạy lên ải Hoành Sơn. Ngươi bịt mặt phá cũi giải thoát cho Diệu, Xuân, Dũng. Ra khỏi cúi Vũ Văn Dũng hỏi:
- Có phải là Tứ sư đệ đó chăng?
Người bịt mặt tháo khăn rồi khóc đáp:
- Đệ chính là Đặng Văn Long đây!
Bốn người ôm nhau mừng mừng tủi tủi. Dũng lại hỏi:
- Từ ngày đệ bỏ vua mà đi, rồi trú ẩn nơi nào? Sao biết bọn ta bị bắt mà đến cứu?
Văn Long đáp:
- Tôi vì bất đắc dĩ mới về chốn non cao núi thẳm vẫn nghe việc vua hèn nhu nhược, lòng người ly tán quân ta bại trận khắp nơi. Nghe các anh chị bị bắt giải về Phú Xuân tôi quy tụ vài mươi thủ hạ chặn đường giải thoát. Thôi! Chúng ta mau tránh đi kéo quân ở ải Hoành Sơn kéo xuống thì nguy.
Trần Quang Diệu bái tạ Văn Long rồi nói:
- Vợ chồng tôi ra hàng Phúc Ánh là để cứu mẹ và con đang bị bắt giam ở Phú Xuân. Nếu chúng tôi tẩu thoát ắt mẹ tôi phải chết. Thôi Vũ huynh và Văn Long hãy đi mau, tôi ở lại cho địch quân đến bắt.
Văn Dũng, Văn Long không nỡ bỏ đi. Bùi Thị Xuân giục:
- Tôi tội chết là đáng lắm, còn thương tiếc mà bị rịn làm chi.
Văn Long hỏi:
- Bùi tỷ nữ nhi anh kiệt, một lòng vì nước sao bảo là có tội
Xuân gạt nước mắt đáp:
- Nếu tôi không tha mạng Phúc Ánh ở Hàm Luông và nghe lời Tiên đế giết chú ruột của tôi là Bùi Đắc Tuyên thì nhà Tây Sơn ta làm gì mất nước. Sao bảo là tôi không có tội. Quân từ ải Hoành Sơn đã kéo xuống kia! Hai người mau đi cho!
Văn Dũng, Văn Long thấy vợ chồng Diệu, Xuân đá quyết không biết làm sao đành tránh mặt vào rừng. Trông chỗ nấp ngó ra thấy Diệu, Xuân ngoan ngoãn để cho quân Gia Miêu bắt giải đi, Dũng ứa nước mắt nói:
- Thương thay Trần huynh, Bùi tỷ! Tận trung chí hiếu như thế là cùng!
Rồi quay sang Long, Dũng hỏi:
- Ngày Tây Sơn dấy nghĩa thầy ta đoán câu sấm "Phụ Nguyễn phục thống" là một dòng họ Nguyễn khác sẽ thống nhất sơn hà, nên mới bảo đại sư huynh ta đổi họ Hồ ra họ Nguyễn. Nay nhà Nguyễn Tây Sơn của ta mất nước, vậy hoá ra câu sấm ấy là sai hay sao?
Đặng Văn Long đáp:
- Cơ trời biến hoá không lường, nếu đoán trước được sao bảo là cơ trời. Nay sự đã rõ, không phải câu sấm không dùng mà là thấy ta đã đoán sai.
- Vậy thế nào là đúng.
- Theo tôi câu "Phụ Nguyễn phục thống" là một nhánh phụ của dòng họ Nguyễn sẽ thống nhất sơn hà. Nay Nguyễn Phúc Ánh không phải dòng đích tôn chính thống đã làm nên việc này, thế chẳng phải là cậu sấm ấy đã ứng rồi ư?
Văn Dũng lại hỏi:
- Anh em ta mất nước nhà tan, giờ phải đi về đâu.
Long đáp:
- Ta theo đường Thượng đạo về Tây Sơn thượng nương náu với người Thượng thì lo gì địch tìm ra tung tích.
Văn Dũng than:
- Giờ chỉ còn cách ấy mà thôi.
Nói rồi Dũng và Long bằng rừng vượt núi về Tây Sơn thượng.

Lê Dân- Kiếm Gỗ
- Tổng số bài gửi: 80
Join date: 02/03/2010
Đến từ: đâu ai biết
Re: Tây Sơn bi hùng truyện - Lê Đình Danh
Chương 69
Dạ hờn căm, vua Gia Long báo thù.
Lòng trung trinh, Lê Thái hậu tự vẫn.
Nói về vua Gia Long ở thành Phú Xuân nghe quân báo đã giải Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân cùng Đặng Xuân Bảo về đến. Vua truyền giải vào. Vợ chồng Diệu, Xuân vừa đến liền quỳ mọp khấu đầu dưới trướng. Đặng Xuân Bảo thấy vậy mắng Diệu , Xuân:
- Ta nghe thiên hạ xưa nay bảo vợ chồng ngươi là đấng anh hùng. Nay đến đường cùng mới hay loài hèn hạ.
Diệu , Xuân bị sỉ nhục hổ thẹn cúi đầu. Vua Gia Long vỗ ngai quát:
- Đặng Xuân Bảo to gan. Trước mặt ta sao dám không quỳ!
Bảo trợn mắt mắng lại:
- Đặng Xuân Bảo ta chỉ quỳ dưới trướng của Quang Trung đại đế. Ngoài ra xưa nay chưa biết quỳ trước kẻ khác bao giờ!
Vua Gia Long cười gằn nói:
- Được! Ta tạm giam tụi bây vào ngục chờ giải Cảnh Thịnh về đây rồi sẽ đào mả lấy xương anh em thằng buôn trâu Nhạc, Huệ, Lữ, rồi sẽ xử tội kẻ sống lẫn người chết vua tôi nhà Tây Sơn bay một thể.
Võ sĩ xông vào lôi Diệu, Xuân và Bảo đi. Bảo vừa đi vừa mắng Diệu, Xuân rằng:
- Ngày trước nó quỳ khóc van xin nên vợ chồng ngươi tha chết cho nó. Nhưng ngày nay cầu xin thế nào cũng không khỏi chết được đâu. Đừng quỳ trước kẻ tiểu nhân mà mang nhục.
Diệu, Xuân chỉ cúi đầu lê bước mà không dám nói gì.
Vua Gia Long nổi giận quát lên rằng:
- Quân bay, đưa Đặng Xuân Bảo lên đây!
Võ sĩ lôi Bảo quay lại. Vua Gia Long quắc mắt hỏi:
- Chờ ta đem hài cốt của Nhạc, Huệ, Lữ về đây rồi đưa các ngươi đến trước tôn miếu của tiên vương ta trị tội thử xem làm cách nào mà ngươi không chịu nhục?
Bảo cười to đáp:
- Ta sẽ tự vẫn mà chết, nhất định không chờ đến ngày thọ nhục.
Nói xong Bảo há miệng toan cắn lưỡi. Nguyễn Văn Thành đứng gần nhanh tay bóp miệng Bảo, không cho Bảo cắn lưỡi tự vẫn. Vua Gia Long quát:
- Quân bây bẻ răng nó rồi trói chặt không cho nó có chỗ đập đầu, xem thử nó chết bằng cách nào.
Võ sĩ vâng lời đè Bảo ra cạy miệng bẻ răng. Bảo máu me đầy miệng vẫn cười to mắng Gia Long rằng:
- Thằng tiểu nhân đê tiện kia, ta sẽ nín thở mà chết, xem thử ngươi có cản được ta chăng?
Nói xong Đặng Xuân Bảo trợn mắt nín hơi không thở nữa. Mặt Bảo vốn đã đỏ, giờ đỏ lên như máu. Giây sau Bảo ngã vật ra mà chết. Vua Gia Long thất kinh than:
- Thật là một sự chết lạ xưa nay chưa từng thấy. Tướng Tây Sơn trung dũng hơn người. Nếu Cảnh Thịnh là một đấng minh quân e rằng ta khó mà phục quốc.
Đoạn vua Gia Long bảo:
- Mau truyền lệnh ta sai người đào mộ lấy cốt Nhạc Huệ, Lữ về cho ta trị tội.
Đặng Đức Siêu bước ra can:
- Tâu Bệ hạ. Việc ấy không nên.
Vua Gia Long hỏi:
- Vì sao lại không nên?
Siêu quỳ thưa:
- Tâu Bệ hạ, đành rằng Nhạc, Huệ có tội lớn với tiên vương, nhưng Nhạc, Huệ chết đã mười năm, vả lại lúc sinh thời cũng là vua một nước. Nếu Bệ hạ làm thế e rằng thiên hạ dị nghị ta quá cố chấp chăng?
Đang cơn giận vua Gia Long gắt:
- Anh em thằng buôn trầu giết hết cả nhà ta. Ta bao phen nếm mật nằm gai, lên rừng xuống bể, lênh đênh hải đảo, lưu vong nước người, trăm cay ngàn đắng. Nếu không đào mả lấy xương anh em nó làm tội sao thoả lòng oán hận của ta. Ý ta đã quyết, còn ai can ngăn, chém!
Đặng Đức Siêu sợ hãi lui ra. Vua Gia Long gọi giật:
- Đặng Đức Siêu!
Siêu giật mình đứng lại, Gia Long bảo:
- Khanh văn chương như nước chảy, hãy viết bài văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, chờ đến ngày làm tội vua tôi giặc Tây Sơn ta sẽ đem ra đọc cho mọi người cùng nghe.
Đặng Đức Siêu vâng lời bái tạ rồi lui ra.
Ít hôm sau, Nguyễn Văn Trương giải Cảnh Thịnh và Hoàng tộc Tây Sơn về đến, quân sĩ đem hài cốt ba anh em Tây Sơn là Nhạc, Huệ, Lữ về phục mệnh. Vua tôi Cảnh Thịnh quỳ trước linh vị các Chúa Nguyễn và bài vị Võ Tánh, Ngô Tùng Châu chịu tội. Vua Gia Long bảo Đặng Đức Siêu đọc bài văn tế. Siêu quỳ trước bài vị Ngô, Võ đọc rằng:
Than ôi!
Đạo thần tử hết lòng thờ Chúa, gian nan từng trải dạ trung thành.
Đấng anh hùng vì nước quyên sinh, điên bái chẳng sai lòng tiết nghĩa.
Ngọc dầu tan vẻ trắng nào phai.
Trúc dẫu cháy tiết ngay vẫn để.
Nhớ hai người xưa:
Thao lược ấy tài,
Kinh luân là chí.
Phò vạc Hán thuở ngôi trời chếch lệch, chém gai đuổi lũ hung tàn.
Vớt xe Đường khi thế nước chông chênh, cầm bút ra tay kinh tế.
Mối nghĩa sánh duyên gác tía, bước gian truân từng cậy dạ khuông phò.
Màn kinh giúp sức cung xanh, công mông dưỡng đã đành lòng uỷ ký.
Hậu quân thuở trao quyền tứ trụ, chữ ân uy lớn nhỏ đều phu.
Lễ bộ phen làm việc chánh khanh, bề trung ái sớm khuya chẳng trễ.
Ngoài cõi vuốt nanh ra sức, chí tiêm cừu đà rải xuống ba quân.
Trong thành then khoá chia lo, lòng ưu quốc đã thấu lên chín bệ.
Miền biên khổn hai năm chia sức giặc, vững lòng tôi bao quản thế là nguy.
Cõi Phú Xuân một trận khét oai trời, nặng việc nước phải lấy mình làm nhẹ.
Sửa áo mũ lạy về Bắc khuyết, ngọn quang minh hun mát tấm trung can.
Chỉ non sông giã với cô thành, chén tân khổ nhắp ngon mùi chánh khí.
Há rằng ngại một phen thỉ thạch, giải trùng vây mà tìm đến quân vương.
Bởi rằng thương muôn mạng tỳ hưu, thà nhất tử để cho toàn tướng sĩ.
Tiếng hiệu lệnh mơ màng trước gió, ấn tín xưa người bộ khúc thương tâm.
Bóng tinh trung thấp thoáng dưới đèn, phong nghi cũ kẻ liêu bằng sái lệ.
Cơ đãng định kíp chầy đành hẹn buổi, xót trướng doanh sao vắng mặt thân huân.
Phận truy tuỳ gang tất cũng đền công, tiếc nhung mạc bỗng thiệt tay trung trí.
Nay gặp tiết thu,
Bày đàn uý tế.
Hai chữ cương thường gánh nặng, rõ cổn hoa cũng thoả chốn u minh.
Ngàn thu hoà nhạc khí thiêng, giúp mao việt để mớ nền bình trị.
Siêu đọc xong, các quan đều rưng rưng ngấn lệ. Vua Gia Long ứa nước mắt nói:
- Ngô, Võ hai khanh!. Hãy xem ta trả thù cho hai khanh đây!
Đoạn vua chỉ vào ba cái sọ người rồi hỏi vua tôi Tây Sơn:
- Các ngươi có biết ba cái đầu lâu này là của ai chăng?
Cảnh Thịnh cũng ứa nước mắt đáp:
- Ấy là hài cốt các Tiên đế của ta.
Vua Gia Long bảo quân:
- Quân bay, đem ba cái đầu lâu của Nhạc, Huệ, Lữ lấy dây xích lại giam vào ngục, còn xương cốt đem nghiền nát bỏ vào lọ để trước cửa ngục làm đồ đựng nước tiểu cho quân sĩ.
Quân vâng lệnh mang ba bộ hài cốt đem đi. Cảnh Thịnh khóc theo:
- Hoàng bá, Phụ hoàng, Hoàng thúc ơi! Con thật là có tội với các Tiên đế!
Bùi Thị Xuân thấy cảnh ấy không dằn lòng được toan mở miệng mắng Gia Long. Trần Quang Diệu ngăn lại nói nhỏ:
- Vợ chồng ta ra hàng chịu nhục là để cứu mẹ. Nếu phu nhân mắng nó, nó giận giết mẹ ta thì sao?
Bùi Thị Xuân đành cắn răng ngậm miệng. Vua Gia Long thấy vợ chồng Diệu, Xuân nói nhỏ với nhau bèn hỏi:
- Trần Quang Diệu, giờ là lúc ta xử tội ngươi đây. Ngươi có điều gì cần nói chăng?
Diệu khấu đầu lạy rồi đáp:
- Tội của thần chết là đáng lắm. Mẹ thần nay đã ngoài tám mươi tuổi không thể làm hại cho xã tắc được. Xin Bệ hạ tha chết cho mẹ thần, thần dù tan xương nát thịt cũng muôn đội hoàng ân.
Vua Gia Long nhìn sang thấy Trần mẫu đã già nua lụ khụ bèn cười nói:
- Được! Ta mở lượng hiếu sinh tha cho mẹ ngươi được sống. Quân bay lôi Trần Quang Diệu xử lăng trì.
Nguyễn Văn Thành bước ra can:
- Lúc Trần Quang Diệu hạ thành Bình Định do hậu quân Võ Tánh trấn thủ, Diệu chẳng những không giết hại quân ta mà còn cấp cho ghe thuyền, lương thực cho quân ta về. Xin Bệ hạ giảm cho Diệu tội lăng trì.
Vua Gia Long suy nghĩ giây lâu rồi khoát tay bảo:
- Mang đi chém ngang lưng!
Trần mẫu nghe vậy vùng đứng lên giơ gậy chỉ mặt vua Gia Long mắng rằng:
- Thằng tiểu nhân kia! Chém đầu cũng chết việc gì phải chém ngang lưng cho phơi gan lòi ruột. Ta quyết không vì thân già này mà để cho các con ta chịu nhục.
Nói xong Trần mẫu đập đầu vào bậc cấp mà chết. Ngoài sân đao phủ khai đao, Trần Quang Diệu đứt làm hai đoạn! Bùi Thị Xuân đau đớn hét lên một tiếng rồi khóc rằng:
- Mẹ ơi! Vợ chồng con ra nộp mạng là để cứu mẹ. Sao mẹ lại huỷ hoại thân mình như thế!
Bỗng Thị Xuân vùng đứng dậy chỉ mặt vua Gia Long mắng rằng:
- Nay mẹ ta đã chết thì ta và ngươi vai vế ngang hàng. Ta nói cho ngươi biết, ngươi làm điều tàn bạo đào mộ các Tiên đế ta, dù ngươi là kẻ chiến thắng nhưng đời sau ai dám bảo ngươi là đấng anh hùng.
Vua Gia Long mỉm cười hỏi:
- Ngươi bảo ta không phải anh hùng, vậy ta hỏi ngươi, ta và Nguyễn Huệ ai hơn ai?
Xuân ung dung đáp:
- Tiên đế ta bốn lượt vào Nam, ba lần ra Bắc. Trong năm ngày đại phá ba mươi vạn quân Thanh do Lê Chiêu Thống cúi đầu cõng sang. Nội một đêm tiêu diệt năm vạn quân Tiêm La do chính ngươi muối mặt rước về. Xét về tài, Tiên đế ta như hùm còn ngươi như cẩu việc gì mà phải hỏi.
Vua Gia long giận tái mặt nhưng vẫn ôn tồn hỏi:
- Còn xét về đức ta và Nguyễn Huệ thế nào?
Bùi Thị Xuân hăng hái lưu loát đáp:
- Tiên đế ta bắt Nguyễn Đăng Trường rồi thả cho đi, bắt Nguyễn Huỳnh Đức dù không hàng được cũng không nỡ giết. Đập đổ hai nhà Trịnh, Nguyễn, đi đến đâu trăm họ đều cơm no áo ấm, nhân nghĩa sáng ngời. Còn ngươi rước ngoại bang về tàn hại lương dân, bắt tướng đối phương thì tru di tam tộc. Người chết đã mười năm ngươi còn đào mả lấy xương làm tội. Xét về đức Tiên đế ta như đêm trăng rằm còn ngươi như đêm ba mươi cần gì phải hỏi.
Bầm gan tím ruột, vua Gia Long gằn giọng:
- Ngươi dám nhục mạ ta, không sợ ta lột da xẻ thịt ư?
Xuân ung dung đáp:
- Lột da xẻ thịt cũng chết là cùng có gì phải sợ! Ta chỉ sợ rằng chết xuống âm phủ gặp Tiên đế ta hỏi ta hai tội. Tội thứ nhất không vâng lệnh mà giết chú ta là Bùi Đắc Tuyên. Tội thứ hai là ở cửa Hàm Luông tha cho thằng tiểu nhân Phúc Ánh.
Bùi Thị Xuân nói xong, các tướng Gia Miêu đều rút gươm khỏi vỏ. Vua Gia Long ngăn lại bảo:
- Giết nó sao thấy được gan nó. Ta có cách này xem nó to gan đến đâu.
Đoạn vua Gia Long bảo võ sĩ:
- Truyền đem con gái Bùi Thị Xuân ra cho voi giày trước mặt nó.
Bỗng một người từ ngoài chạy vào nói lớn:
- Xin Hoàng huynh hãy tha chết cho con gái Bùi Thị Xuân.
Mọi người giật mình nhìn lại, thì ra là Quận Chúa Ngọc Du. Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi Ngọc Du:
- Chồng nó là Trần Quang Diệu đánh thành Bình Định hại chết chồng em là Võ Tánh, sao em còn xin tha cho con gái của nó?
Quận Chúa Ngọc Du toan mở miệng, nhưng chợt nhớ ra điều gì bèn đến gần vua nói nhỏ:
- Ngày trước Bùi Thị Xuân tha cho ba mẹ con ta ở cửa Hàm Luông nên ta mới được như ngày nay. Xin Hoàng huynh nghĩ tình ấy mà tha cho con gái của Xuân.
Vua Gia Long lắc đầu đáp nhỏ với Ngọc Du:
- Ngày trước nó tha cho ta nên mất nước. Ngày nay ta lại bắt chước sự sai lầm của nó hay sao?
Đoạn quay sang bọn võ sĩ, vua vỗ án quát lớn:
- Nhổ cỏ tận gốc, giết rắn dập đầu. Quân bay mau đem con gái Bùi Thị Xuân ra hành hình!
Võ sĩ vâng lệnh, lập tức thi hành. Một con voi to lớn bước chậm rãi đến gần con gái Thị Xuân. Nàng ấy vừa mười bốn tuổi sợ hãi hét lên:
- Mẹ ơi cứu con!
Xuân nghiêm mặt quát:
- Con nhà tướng không được sợ chết! Con thà chết đi cùng cha mẹ còn hơn là sống với lũ tiểu nhân kia!
Xuân vừa dứt lời, voi đã dùng vòi quấn lấy con gái Xuân tung lên không. Khi nàng rơi xuống voi đưa cặp ngà ra hứng, ngà voi nhọn hoắt xuyên qua người, nàng quằn quại trên miệng voi mà chết. Voi lại cúi đầu vứt xác nàng xuống đất rồi dùng chân dày đạp lên. Thương thay con gái Bùi Thị Xuân chết nát tan thi thể. Mọi người mục kích đều lè lưỡi lắc đầu mà rơi nước mắt!
Thế nhưng, có một người đáng ra phải khóc, mà không khóc. Đó là Bùi Thị Xuân! Xuân kéo lê xích chân đi đến gần con voi vừa hành hình con gái mình. Tên nài voi giục voi quấn Xuân. Voi vừa vươn vòi, Xuân vùng hét lên một tiếng, voi thất kinh co vòi quay đầu mà chạy. Tên nài dùng búa đánh vào đầu voi bảo quay lại, voi vùng hất tên nài xuống đất rồi cắm cổ chạy ra khỏi pháp trường. Đội quân hành hình lại đưa voi khác vào thay, nhưng con nào cũng thế, khi đến gần nghe Xuân hét lên đều co vòi quay đầu chạy hết cả.
Tướng sĩ Gia Miêu tuy không hiểu vì lý do gì nhưng thấy vậy thảy đều khiếp đám. Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi quần thần:
- Bùi Thị Xuân có tài gì mà có thể khuất phục được voi như thế?
Tả hữu có người biết chuyện thưa rằng: - Bùi Thị Xuân chuyên huấn luyện voi để lập đội tượng binh cho giặc Tây Sơn. Số voi này là của dịch do quân ta bắt được. Có lẽ nó nhận ra chủ cũ nên không dám làm hại chăng?
Vua Gia Long bảo:
- Nếu voi dày không được thì đem cho ngũ mã phanh thây. Nhất định phải cho nó chết không toàn thây!
Võ sĩ cột đầu và tứ chi của Bùi Thị Xuân vào năm con ngựa rồi bảo kỵ mã ra roi. Thương thay Bùi Thị Xuân! Đầu, mình, tay, chân mỗi phần một ngả!
Vua Tây Sơn là Cảnh Thịnh thấy gia đình Diệu, Xuân bị hành hình xong biết đến lượt mình thì thất kinh hồn vía. Cảnh Thịnh vọt miệng nói:
- Trước khi chết xin cho mâm cơm lót dạ kẻo phải làm ma đói.
Vua Gia Long ôm bụng cười một hồi rồi bảo quân dọn mâm cho Cảnh Thịnh. Hoàng đệ Quang Bàn hỏi Cảnh Thịnh:
- Cớ sao Hoàng huynh lại xin cơm của giặc?
Cảnh Thịnh cúi đầu đáp:
- Không phải anh muốn ăn, nhưng để kéo dài thời gian sống được giờ nào hay giờ ấy.
Cơm dọn lên, võ sĩ cởi trói cho Cảnh Thịnh cùng hoàng tộc. Cảnh Thịnh ngồi vào bàn cầm đũa, Quang Bàn liệng chén quát:
- Chết thì chết, việc gì phải đi ăn cơm thừa của giặc!
Cảnh Thịnh vừa ăn vừa rơi nước mắt. Quang Bàn ngửa mặt lên trời kêu rằng:
- Phụ hoàng ơi! Nhà Tây Sơn ta đổ là phải lắm rồi. Chỉ tiếc cho công lao dựng nghiệp của Phụ hoàng mà thôi!
Nói xong Quang Bàn dùng chiếc đũa đâm mạnh vào lỗ tai mà chết. Vua Gia Long thất kinh nghĩ thầm: Con của Nguyễn Huệ đến thằng nhỏ này cũng khí khái anh hùng như vậy mà Quang Toản là người nối ngôi lại hèn hạ u mê. Ấy thật là trời giúp ta!
Cảnh Thịnh ăn xong, vua Gia Long truyền đem ra cho ngũ mã phanh thây.
***
Làm tội vua tôi Tây Sơn xong, vua Gia Long lại hạ lệnh cho quân trấn thủ Bình Định lùng bắt bà con tông tộc của các tướng Tây Sơn đem làm tội. Vì việc ấy mà ở phủ Quy Nhơn người bị chém đầu lên đến hàng ngàn. Vua Gia Long lại hạ lệnh truy lùng tất cả sách vở dưới triều Quang Trung Nguyễn Huệ gom về đốt cả đi, và kẻ nào ghi chép bất cứ điều gì về nhà Tây Sơn phải bị tru di tam tộc. Vua Gia Long bảo:
- Ta muốn từ nay về sau dân ta không được nói về giặc Tây Sơn và anh em thằng buôn trầu Nhạc, Huệ nữa.
Vua vừa dứt lời, xảy quân vào báo:
- Tâu Hoàng thượng, quân ta vừa bắt được Lê Thái hậu vợ Quang Trung Nguyễn Huệ, xin giải về cho Bệ hạ xét xử.
Vua Gia Long hỏi:
- Ngọc Hân chết đã ba năm nay, có văn tế hẳn hoi thì làm gì còn Ngọc Hân nào đây nữa?
Quân đáp:
- Tâu Bệ hạ, các cung nữ hầu hạ trong Bắc cung dưới thời Nguyễn Huệ đều xác nhận người ấy là Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân.
Vua Gia Long lấy làm lạ bèn truyền cho vào. Quân đưa một thiếu phụ đến thi lễ dưới thềm. Vua Gia Long liếc nhìn, thiếu phụ cực kỳ diễm lệ. Lòng bồi hồi xúc động, vua Gia Long hỏi:
- Nàng kia! Nàng có phải là Ngọc Hân vợ Nguyễn Huệ không?
Nàng ấy đáp:
- Thưa tôi chính là Ngọc Hân công chúa nhà Lê, vợ Quang Trung Hoàng đế!
Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi:
- Ngọc Hân đã chết năm Kỷ Mùi (1799) có văn tế của Cảnh Thịnh rành rành. Sao ngươi dám mạo nhận Ngọc Hân công chúa.
- Nguyên chồng tôi là Quang Trung Hoàng đế định đến cuối thu năm Nhâm Tý (1792) sẽ đem quân vào Gia Định tiêu diệt Bệ hạ, rồi sẽ cất quân đánh Tàu đòi đất Lưỡng Quảng xưa kia là của nước ta. Chồng tôi có hỏi ý của La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp. Phu tử bảo không có điều bình Nam, Bắc tiến. Đến khi chồng tôi băng hà tôi mới tin điều Phu tử nói là đúng, nên mới giả chết trốn đi. Chẳng ngờ nay lộ ra tông tích, tuỳ Bệ hạ muốn xử thế nào thì xử.
Vua Gia Long nhìn Ngọc Hân hồi lâu rồi bảo:
- Tuy nàng là vợ giặc Huệ tội đáng phải chết, nhưng nàng lại là công chúa nhà Lê, mà các tiên vương của ta trước cũng là tôi của vua Lê. Nghĩ tình ấy ta tha không giết.
Đoạn quay sang võ sĩ vua bảo:
- Truyền giam Ngọc Hân vào ngục, đối xử tử tế chờ xét sau.
Quân đưa Ngọc Hân đi rồi, Nguyễn Văn Thành hỏi:
- Bệ hạ định xử Ngọc Hân thế nào?
Vua Gia Long vui vẻ đáp:
- Ta sẽ tuyển nàng vào hậu cung.
Thành can:
- Bệ hạ là vua một nước thiếu gì cung phi mỹ nữ, cần gì phải lấy vợ thừa của giặc!
Vua Gia Long gạt đi bảo:
- Nước của nó ta còn lấy được, vợ của nó ta lại không lấy được hay sao?
Nói xong vua Gia Long lui về hậu cung rồi truyền đưa Ngọc Hân đến hầu. Đến nơi, biết ý vua Gia Long, Ngọc Hân mắng rằng:
- Ta là công chúa nhà Lê, lại là vợ Quang Trung đại đế. Nay ngươi muốn giết cứ giết, đời nào ta lại để thằng tiểu nhân như ngươi làm nhục hay sao!
Mắng rồi Ngọc Hân lao đầu vào tường mà chết.
Vua Gia Long sửng sốt một hồi, rồi gọi người tín cẩn nhất đến bảo:
- Ngươi mau đem xác Ngọc Hân bí mật chôn ở sau vườn thượng uyển, rồi ra ngoài thành phao câu ca như thế này… Nếu việc lộ ra lập tức mất đầu.
Người tín cẩn y lệnh thi hành.
Hôm sau khắp kinh thành ai nấy đều nghe lắm kẻ hát câu ca rằng:
Gái đâu có gái lạ lùng.
Con vua mà lấy hai chồng làm vua.
Bá tánh già trẻ bàn tán với nhau:
- Ngọc Hân công chúa nhà Lê đã là Bắc cung Hoàng hậu dưới triều Quang Trung Hoàng đế. Nay dù bị bắt thì nên chết đi mới phải sao lại chịu nhục mà làm thiếp cho vua Gia Long thế. Thật xấu hố thay!
Thương thay Thái hậu Ngọc Hân đã chết thảm còn mang tiếng nhơ oan ức!
Xong việc ấy, Nguyễn Văn Trương lại đến tâu:
- Tướng quân Lê Văn Duyệt sai thần giải Cảnh Thịnh về kinh cho Bệ hạ trị tội và xin lệnh Bệ hạ xét xử các văn thần nhà Lê như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích sau theo giặc Tây Sơn phải tội như thế nào?
Vua Gia Long nhanh trí cười vui vẻ đáp liền: - Bọn họ trước là tôi thần của nhà Lê, mà ta đây rất quý nhà Lê. Vậy truyền tha tội chỉ đánh mỗi ngươi hai mươi trượng rồi đuổi về dân dã.
Nguyễn Văn Trương vâng lệnh lên đường ra Bắc. Ra ngoài thành, Trương nghe thiên hạ bàn tán rằng:
- Các tôi thần của Tây Sơn đều bị tru di tam tộc. Sao Gia Long lại tha tội chết cho bọn cựu thần nhà Lê là Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích?
Kẻ khác lại bảo:
- Ấy là vì công chúa nhà Lê là Ngọc Hân đã về làm thiếp cho Gia Long, vì lấy lòng Lê Ngọc Hân nên vua mới tha chết cho bọn cựu thần nhà Lê đó.
Nói xong họ lại ca rằng:
Gái đâu có gái lạ lùng.
Con vua mà lấy hai chồng làm vua.
Nguyễn Văn Trương vừa đi vừa nghĩ:
- Lê Ngọc Hân thật chẳng ra gì.
Dạ hờn căm, vua Gia Long báo thù.
Lòng trung trinh, Lê Thái hậu tự vẫn.
Nói về vua Gia Long ở thành Phú Xuân nghe quân báo đã giải Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân cùng Đặng Xuân Bảo về đến. Vua truyền giải vào. Vợ chồng Diệu, Xuân vừa đến liền quỳ mọp khấu đầu dưới trướng. Đặng Xuân Bảo thấy vậy mắng Diệu , Xuân:
- Ta nghe thiên hạ xưa nay bảo vợ chồng ngươi là đấng anh hùng. Nay đến đường cùng mới hay loài hèn hạ.
Diệu , Xuân bị sỉ nhục hổ thẹn cúi đầu. Vua Gia Long vỗ ngai quát:
- Đặng Xuân Bảo to gan. Trước mặt ta sao dám không quỳ!
Bảo trợn mắt mắng lại:
- Đặng Xuân Bảo ta chỉ quỳ dưới trướng của Quang Trung đại đế. Ngoài ra xưa nay chưa biết quỳ trước kẻ khác bao giờ!
Vua Gia Long cười gằn nói:
- Được! Ta tạm giam tụi bây vào ngục chờ giải Cảnh Thịnh về đây rồi sẽ đào mả lấy xương anh em thằng buôn trâu Nhạc, Huệ, Lữ, rồi sẽ xử tội kẻ sống lẫn người chết vua tôi nhà Tây Sơn bay một thể.
Võ sĩ xông vào lôi Diệu, Xuân và Bảo đi. Bảo vừa đi vừa mắng Diệu, Xuân rằng:
- Ngày trước nó quỳ khóc van xin nên vợ chồng ngươi tha chết cho nó. Nhưng ngày nay cầu xin thế nào cũng không khỏi chết được đâu. Đừng quỳ trước kẻ tiểu nhân mà mang nhục.
Diệu, Xuân chỉ cúi đầu lê bước mà không dám nói gì.
Vua Gia Long nổi giận quát lên rằng:
- Quân bay, đưa Đặng Xuân Bảo lên đây!
Võ sĩ lôi Bảo quay lại. Vua Gia Long quắc mắt hỏi:
- Chờ ta đem hài cốt của Nhạc, Huệ, Lữ về đây rồi đưa các ngươi đến trước tôn miếu của tiên vương ta trị tội thử xem làm cách nào mà ngươi không chịu nhục?
Bảo cười to đáp:
- Ta sẽ tự vẫn mà chết, nhất định không chờ đến ngày thọ nhục.
Nói xong Bảo há miệng toan cắn lưỡi. Nguyễn Văn Thành đứng gần nhanh tay bóp miệng Bảo, không cho Bảo cắn lưỡi tự vẫn. Vua Gia Long quát:
- Quân bây bẻ răng nó rồi trói chặt không cho nó có chỗ đập đầu, xem thử nó chết bằng cách nào.
Võ sĩ vâng lời đè Bảo ra cạy miệng bẻ răng. Bảo máu me đầy miệng vẫn cười to mắng Gia Long rằng:
- Thằng tiểu nhân đê tiện kia, ta sẽ nín thở mà chết, xem thử ngươi có cản được ta chăng?
Nói xong Đặng Xuân Bảo trợn mắt nín hơi không thở nữa. Mặt Bảo vốn đã đỏ, giờ đỏ lên như máu. Giây sau Bảo ngã vật ra mà chết. Vua Gia Long thất kinh than:
- Thật là một sự chết lạ xưa nay chưa từng thấy. Tướng Tây Sơn trung dũng hơn người. Nếu Cảnh Thịnh là một đấng minh quân e rằng ta khó mà phục quốc.
Đoạn vua Gia Long bảo:
- Mau truyền lệnh ta sai người đào mộ lấy cốt Nhạc Huệ, Lữ về cho ta trị tội.
Đặng Đức Siêu bước ra can:
- Tâu Bệ hạ. Việc ấy không nên.
Vua Gia Long hỏi:
- Vì sao lại không nên?
Siêu quỳ thưa:
- Tâu Bệ hạ, đành rằng Nhạc, Huệ có tội lớn với tiên vương, nhưng Nhạc, Huệ chết đã mười năm, vả lại lúc sinh thời cũng là vua một nước. Nếu Bệ hạ làm thế e rằng thiên hạ dị nghị ta quá cố chấp chăng?
Đang cơn giận vua Gia Long gắt:
- Anh em thằng buôn trầu giết hết cả nhà ta. Ta bao phen nếm mật nằm gai, lên rừng xuống bể, lênh đênh hải đảo, lưu vong nước người, trăm cay ngàn đắng. Nếu không đào mả lấy xương anh em nó làm tội sao thoả lòng oán hận của ta. Ý ta đã quyết, còn ai can ngăn, chém!
Đặng Đức Siêu sợ hãi lui ra. Vua Gia Long gọi giật:
- Đặng Đức Siêu!
Siêu giật mình đứng lại, Gia Long bảo:
- Khanh văn chương như nước chảy, hãy viết bài văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, chờ đến ngày làm tội vua tôi giặc Tây Sơn ta sẽ đem ra đọc cho mọi người cùng nghe.
Đặng Đức Siêu vâng lời bái tạ rồi lui ra.
Ít hôm sau, Nguyễn Văn Trương giải Cảnh Thịnh và Hoàng tộc Tây Sơn về đến, quân sĩ đem hài cốt ba anh em Tây Sơn là Nhạc, Huệ, Lữ về phục mệnh. Vua tôi Cảnh Thịnh quỳ trước linh vị các Chúa Nguyễn và bài vị Võ Tánh, Ngô Tùng Châu chịu tội. Vua Gia Long bảo Đặng Đức Siêu đọc bài văn tế. Siêu quỳ trước bài vị Ngô, Võ đọc rằng:
Than ôi!
Đạo thần tử hết lòng thờ Chúa, gian nan từng trải dạ trung thành.
Đấng anh hùng vì nước quyên sinh, điên bái chẳng sai lòng tiết nghĩa.
Ngọc dầu tan vẻ trắng nào phai.
Trúc dẫu cháy tiết ngay vẫn để.
Nhớ hai người xưa:
Thao lược ấy tài,
Kinh luân là chí.
Phò vạc Hán thuở ngôi trời chếch lệch, chém gai đuổi lũ hung tàn.
Vớt xe Đường khi thế nước chông chênh, cầm bút ra tay kinh tế.
Mối nghĩa sánh duyên gác tía, bước gian truân từng cậy dạ khuông phò.
Màn kinh giúp sức cung xanh, công mông dưỡng đã đành lòng uỷ ký.
Hậu quân thuở trao quyền tứ trụ, chữ ân uy lớn nhỏ đều phu.
Lễ bộ phen làm việc chánh khanh, bề trung ái sớm khuya chẳng trễ.
Ngoài cõi vuốt nanh ra sức, chí tiêm cừu đà rải xuống ba quân.
Trong thành then khoá chia lo, lòng ưu quốc đã thấu lên chín bệ.
Miền biên khổn hai năm chia sức giặc, vững lòng tôi bao quản thế là nguy.
Cõi Phú Xuân một trận khét oai trời, nặng việc nước phải lấy mình làm nhẹ.
Sửa áo mũ lạy về Bắc khuyết, ngọn quang minh hun mát tấm trung can.
Chỉ non sông giã với cô thành, chén tân khổ nhắp ngon mùi chánh khí.
Há rằng ngại một phen thỉ thạch, giải trùng vây mà tìm đến quân vương.
Bởi rằng thương muôn mạng tỳ hưu, thà nhất tử để cho toàn tướng sĩ.
Tiếng hiệu lệnh mơ màng trước gió, ấn tín xưa người bộ khúc thương tâm.
Bóng tinh trung thấp thoáng dưới đèn, phong nghi cũ kẻ liêu bằng sái lệ.
Cơ đãng định kíp chầy đành hẹn buổi, xót trướng doanh sao vắng mặt thân huân.
Phận truy tuỳ gang tất cũng đền công, tiếc nhung mạc bỗng thiệt tay trung trí.
Nay gặp tiết thu,
Bày đàn uý tế.
Hai chữ cương thường gánh nặng, rõ cổn hoa cũng thoả chốn u minh.
Ngàn thu hoà nhạc khí thiêng, giúp mao việt để mớ nền bình trị.
Siêu đọc xong, các quan đều rưng rưng ngấn lệ. Vua Gia Long ứa nước mắt nói:
- Ngô, Võ hai khanh!. Hãy xem ta trả thù cho hai khanh đây!
Đoạn vua chỉ vào ba cái sọ người rồi hỏi vua tôi Tây Sơn:
- Các ngươi có biết ba cái đầu lâu này là của ai chăng?
Cảnh Thịnh cũng ứa nước mắt đáp:
- Ấy là hài cốt các Tiên đế của ta.
Vua Gia Long bảo quân:
- Quân bay, đem ba cái đầu lâu của Nhạc, Huệ, Lữ lấy dây xích lại giam vào ngục, còn xương cốt đem nghiền nát bỏ vào lọ để trước cửa ngục làm đồ đựng nước tiểu cho quân sĩ.
Quân vâng lệnh mang ba bộ hài cốt đem đi. Cảnh Thịnh khóc theo:
- Hoàng bá, Phụ hoàng, Hoàng thúc ơi! Con thật là có tội với các Tiên đế!
Bùi Thị Xuân thấy cảnh ấy không dằn lòng được toan mở miệng mắng Gia Long. Trần Quang Diệu ngăn lại nói nhỏ:
- Vợ chồng ta ra hàng chịu nhục là để cứu mẹ. Nếu phu nhân mắng nó, nó giận giết mẹ ta thì sao?
Bùi Thị Xuân đành cắn răng ngậm miệng. Vua Gia Long thấy vợ chồng Diệu, Xuân nói nhỏ với nhau bèn hỏi:
- Trần Quang Diệu, giờ là lúc ta xử tội ngươi đây. Ngươi có điều gì cần nói chăng?
Diệu khấu đầu lạy rồi đáp:
- Tội của thần chết là đáng lắm. Mẹ thần nay đã ngoài tám mươi tuổi không thể làm hại cho xã tắc được. Xin Bệ hạ tha chết cho mẹ thần, thần dù tan xương nát thịt cũng muôn đội hoàng ân.
Vua Gia Long nhìn sang thấy Trần mẫu đã già nua lụ khụ bèn cười nói:
- Được! Ta mở lượng hiếu sinh tha cho mẹ ngươi được sống. Quân bay lôi Trần Quang Diệu xử lăng trì.
Nguyễn Văn Thành bước ra can:
- Lúc Trần Quang Diệu hạ thành Bình Định do hậu quân Võ Tánh trấn thủ, Diệu chẳng những không giết hại quân ta mà còn cấp cho ghe thuyền, lương thực cho quân ta về. Xin Bệ hạ giảm cho Diệu tội lăng trì.
Vua Gia Long suy nghĩ giây lâu rồi khoát tay bảo:
- Mang đi chém ngang lưng!
Trần mẫu nghe vậy vùng đứng lên giơ gậy chỉ mặt vua Gia Long mắng rằng:
- Thằng tiểu nhân kia! Chém đầu cũng chết việc gì phải chém ngang lưng cho phơi gan lòi ruột. Ta quyết không vì thân già này mà để cho các con ta chịu nhục.
Nói xong Trần mẫu đập đầu vào bậc cấp mà chết. Ngoài sân đao phủ khai đao, Trần Quang Diệu đứt làm hai đoạn! Bùi Thị Xuân đau đớn hét lên một tiếng rồi khóc rằng:
- Mẹ ơi! Vợ chồng con ra nộp mạng là để cứu mẹ. Sao mẹ lại huỷ hoại thân mình như thế!
Bỗng Thị Xuân vùng đứng dậy chỉ mặt vua Gia Long mắng rằng:
- Nay mẹ ta đã chết thì ta và ngươi vai vế ngang hàng. Ta nói cho ngươi biết, ngươi làm điều tàn bạo đào mộ các Tiên đế ta, dù ngươi là kẻ chiến thắng nhưng đời sau ai dám bảo ngươi là đấng anh hùng.
Vua Gia Long mỉm cười hỏi:
- Ngươi bảo ta không phải anh hùng, vậy ta hỏi ngươi, ta và Nguyễn Huệ ai hơn ai?
Xuân ung dung đáp:
- Tiên đế ta bốn lượt vào Nam, ba lần ra Bắc. Trong năm ngày đại phá ba mươi vạn quân Thanh do Lê Chiêu Thống cúi đầu cõng sang. Nội một đêm tiêu diệt năm vạn quân Tiêm La do chính ngươi muối mặt rước về. Xét về tài, Tiên đế ta như hùm còn ngươi như cẩu việc gì mà phải hỏi.
Vua Gia long giận tái mặt nhưng vẫn ôn tồn hỏi:
- Còn xét về đức ta và Nguyễn Huệ thế nào?
Bùi Thị Xuân hăng hái lưu loát đáp:
- Tiên đế ta bắt Nguyễn Đăng Trường rồi thả cho đi, bắt Nguyễn Huỳnh Đức dù không hàng được cũng không nỡ giết. Đập đổ hai nhà Trịnh, Nguyễn, đi đến đâu trăm họ đều cơm no áo ấm, nhân nghĩa sáng ngời. Còn ngươi rước ngoại bang về tàn hại lương dân, bắt tướng đối phương thì tru di tam tộc. Người chết đã mười năm ngươi còn đào mả lấy xương làm tội. Xét về đức Tiên đế ta như đêm trăng rằm còn ngươi như đêm ba mươi cần gì phải hỏi.
Bầm gan tím ruột, vua Gia Long gằn giọng:
- Ngươi dám nhục mạ ta, không sợ ta lột da xẻ thịt ư?
Xuân ung dung đáp:
- Lột da xẻ thịt cũng chết là cùng có gì phải sợ! Ta chỉ sợ rằng chết xuống âm phủ gặp Tiên đế ta hỏi ta hai tội. Tội thứ nhất không vâng lệnh mà giết chú ta là Bùi Đắc Tuyên. Tội thứ hai là ở cửa Hàm Luông tha cho thằng tiểu nhân Phúc Ánh.
Bùi Thị Xuân nói xong, các tướng Gia Miêu đều rút gươm khỏi vỏ. Vua Gia Long ngăn lại bảo:
- Giết nó sao thấy được gan nó. Ta có cách này xem nó to gan đến đâu.
Đoạn vua Gia Long bảo võ sĩ:
- Truyền đem con gái Bùi Thị Xuân ra cho voi giày trước mặt nó.
Bỗng một người từ ngoài chạy vào nói lớn:
- Xin Hoàng huynh hãy tha chết cho con gái Bùi Thị Xuân.
Mọi người giật mình nhìn lại, thì ra là Quận Chúa Ngọc Du. Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi Ngọc Du:
- Chồng nó là Trần Quang Diệu đánh thành Bình Định hại chết chồng em là Võ Tánh, sao em còn xin tha cho con gái của nó?
Quận Chúa Ngọc Du toan mở miệng, nhưng chợt nhớ ra điều gì bèn đến gần vua nói nhỏ:
- Ngày trước Bùi Thị Xuân tha cho ba mẹ con ta ở cửa Hàm Luông nên ta mới được như ngày nay. Xin Hoàng huynh nghĩ tình ấy mà tha cho con gái của Xuân.
Vua Gia Long lắc đầu đáp nhỏ với Ngọc Du:
- Ngày trước nó tha cho ta nên mất nước. Ngày nay ta lại bắt chước sự sai lầm của nó hay sao?
Đoạn quay sang bọn võ sĩ, vua vỗ án quát lớn:
- Nhổ cỏ tận gốc, giết rắn dập đầu. Quân bay mau đem con gái Bùi Thị Xuân ra hành hình!
Võ sĩ vâng lệnh, lập tức thi hành. Một con voi to lớn bước chậm rãi đến gần con gái Thị Xuân. Nàng ấy vừa mười bốn tuổi sợ hãi hét lên:
- Mẹ ơi cứu con!
Xuân nghiêm mặt quát:
- Con nhà tướng không được sợ chết! Con thà chết đi cùng cha mẹ còn hơn là sống với lũ tiểu nhân kia!
Xuân vừa dứt lời, voi đã dùng vòi quấn lấy con gái Xuân tung lên không. Khi nàng rơi xuống voi đưa cặp ngà ra hứng, ngà voi nhọn hoắt xuyên qua người, nàng quằn quại trên miệng voi mà chết. Voi lại cúi đầu vứt xác nàng xuống đất rồi dùng chân dày đạp lên. Thương thay con gái Bùi Thị Xuân chết nát tan thi thể. Mọi người mục kích đều lè lưỡi lắc đầu mà rơi nước mắt!
Thế nhưng, có một người đáng ra phải khóc, mà không khóc. Đó là Bùi Thị Xuân! Xuân kéo lê xích chân đi đến gần con voi vừa hành hình con gái mình. Tên nài voi giục voi quấn Xuân. Voi vừa vươn vòi, Xuân vùng hét lên một tiếng, voi thất kinh co vòi quay đầu mà chạy. Tên nài dùng búa đánh vào đầu voi bảo quay lại, voi vùng hất tên nài xuống đất rồi cắm cổ chạy ra khỏi pháp trường. Đội quân hành hình lại đưa voi khác vào thay, nhưng con nào cũng thế, khi đến gần nghe Xuân hét lên đều co vòi quay đầu chạy hết cả.
Tướng sĩ Gia Miêu tuy không hiểu vì lý do gì nhưng thấy vậy thảy đều khiếp đám. Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi quần thần:
- Bùi Thị Xuân có tài gì mà có thể khuất phục được voi như thế?
Tả hữu có người biết chuyện thưa rằng: - Bùi Thị Xuân chuyên huấn luyện voi để lập đội tượng binh cho giặc Tây Sơn. Số voi này là của dịch do quân ta bắt được. Có lẽ nó nhận ra chủ cũ nên không dám làm hại chăng?
Vua Gia Long bảo:
- Nếu voi dày không được thì đem cho ngũ mã phanh thây. Nhất định phải cho nó chết không toàn thây!
Võ sĩ cột đầu và tứ chi của Bùi Thị Xuân vào năm con ngựa rồi bảo kỵ mã ra roi. Thương thay Bùi Thị Xuân! Đầu, mình, tay, chân mỗi phần một ngả!
Vua Tây Sơn là Cảnh Thịnh thấy gia đình Diệu, Xuân bị hành hình xong biết đến lượt mình thì thất kinh hồn vía. Cảnh Thịnh vọt miệng nói:
- Trước khi chết xin cho mâm cơm lót dạ kẻo phải làm ma đói.
Vua Gia Long ôm bụng cười một hồi rồi bảo quân dọn mâm cho Cảnh Thịnh. Hoàng đệ Quang Bàn hỏi Cảnh Thịnh:
- Cớ sao Hoàng huynh lại xin cơm của giặc?
Cảnh Thịnh cúi đầu đáp:
- Không phải anh muốn ăn, nhưng để kéo dài thời gian sống được giờ nào hay giờ ấy.
Cơm dọn lên, võ sĩ cởi trói cho Cảnh Thịnh cùng hoàng tộc. Cảnh Thịnh ngồi vào bàn cầm đũa, Quang Bàn liệng chén quát:
- Chết thì chết, việc gì phải đi ăn cơm thừa của giặc!
Cảnh Thịnh vừa ăn vừa rơi nước mắt. Quang Bàn ngửa mặt lên trời kêu rằng:
- Phụ hoàng ơi! Nhà Tây Sơn ta đổ là phải lắm rồi. Chỉ tiếc cho công lao dựng nghiệp của Phụ hoàng mà thôi!
Nói xong Quang Bàn dùng chiếc đũa đâm mạnh vào lỗ tai mà chết. Vua Gia Long thất kinh nghĩ thầm: Con của Nguyễn Huệ đến thằng nhỏ này cũng khí khái anh hùng như vậy mà Quang Toản là người nối ngôi lại hèn hạ u mê. Ấy thật là trời giúp ta!
Cảnh Thịnh ăn xong, vua Gia Long truyền đem ra cho ngũ mã phanh thây.
***
Làm tội vua tôi Tây Sơn xong, vua Gia Long lại hạ lệnh cho quân trấn thủ Bình Định lùng bắt bà con tông tộc của các tướng Tây Sơn đem làm tội. Vì việc ấy mà ở phủ Quy Nhơn người bị chém đầu lên đến hàng ngàn. Vua Gia Long lại hạ lệnh truy lùng tất cả sách vở dưới triều Quang Trung Nguyễn Huệ gom về đốt cả đi, và kẻ nào ghi chép bất cứ điều gì về nhà Tây Sơn phải bị tru di tam tộc. Vua Gia Long bảo:
- Ta muốn từ nay về sau dân ta không được nói về giặc Tây Sơn và anh em thằng buôn trầu Nhạc, Huệ nữa.
Vua vừa dứt lời, xảy quân vào báo:
- Tâu Hoàng thượng, quân ta vừa bắt được Lê Thái hậu vợ Quang Trung Nguyễn Huệ, xin giải về cho Bệ hạ xét xử.
Vua Gia Long hỏi:
- Ngọc Hân chết đã ba năm nay, có văn tế hẳn hoi thì làm gì còn Ngọc Hân nào đây nữa?
Quân đáp:
- Tâu Bệ hạ, các cung nữ hầu hạ trong Bắc cung dưới thời Nguyễn Huệ đều xác nhận người ấy là Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân.
Vua Gia Long lấy làm lạ bèn truyền cho vào. Quân đưa một thiếu phụ đến thi lễ dưới thềm. Vua Gia Long liếc nhìn, thiếu phụ cực kỳ diễm lệ. Lòng bồi hồi xúc động, vua Gia Long hỏi:
- Nàng kia! Nàng có phải là Ngọc Hân vợ Nguyễn Huệ không?
Nàng ấy đáp:
- Thưa tôi chính là Ngọc Hân công chúa nhà Lê, vợ Quang Trung Hoàng đế!
Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi:
- Ngọc Hân đã chết năm Kỷ Mùi (1799) có văn tế của Cảnh Thịnh rành rành. Sao ngươi dám mạo nhận Ngọc Hân công chúa.
- Nguyên chồng tôi là Quang Trung Hoàng đế định đến cuối thu năm Nhâm Tý (1792) sẽ đem quân vào Gia Định tiêu diệt Bệ hạ, rồi sẽ cất quân đánh Tàu đòi đất Lưỡng Quảng xưa kia là của nước ta. Chồng tôi có hỏi ý của La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp. Phu tử bảo không có điều bình Nam, Bắc tiến. Đến khi chồng tôi băng hà tôi mới tin điều Phu tử nói là đúng, nên mới giả chết trốn đi. Chẳng ngờ nay lộ ra tông tích, tuỳ Bệ hạ muốn xử thế nào thì xử.
Vua Gia Long nhìn Ngọc Hân hồi lâu rồi bảo:
- Tuy nàng là vợ giặc Huệ tội đáng phải chết, nhưng nàng lại là công chúa nhà Lê, mà các tiên vương của ta trước cũng là tôi của vua Lê. Nghĩ tình ấy ta tha không giết.
Đoạn quay sang võ sĩ vua bảo:
- Truyền giam Ngọc Hân vào ngục, đối xử tử tế chờ xét sau.
Quân đưa Ngọc Hân đi rồi, Nguyễn Văn Thành hỏi:
- Bệ hạ định xử Ngọc Hân thế nào?
Vua Gia Long vui vẻ đáp:
- Ta sẽ tuyển nàng vào hậu cung.
Thành can:
- Bệ hạ là vua một nước thiếu gì cung phi mỹ nữ, cần gì phải lấy vợ thừa của giặc!
Vua Gia Long gạt đi bảo:
- Nước của nó ta còn lấy được, vợ của nó ta lại không lấy được hay sao?
Nói xong vua Gia Long lui về hậu cung rồi truyền đưa Ngọc Hân đến hầu. Đến nơi, biết ý vua Gia Long, Ngọc Hân mắng rằng:
- Ta là công chúa nhà Lê, lại là vợ Quang Trung đại đế. Nay ngươi muốn giết cứ giết, đời nào ta lại để thằng tiểu nhân như ngươi làm nhục hay sao!
Mắng rồi Ngọc Hân lao đầu vào tường mà chết.
Vua Gia Long sửng sốt một hồi, rồi gọi người tín cẩn nhất đến bảo:
- Ngươi mau đem xác Ngọc Hân bí mật chôn ở sau vườn thượng uyển, rồi ra ngoài thành phao câu ca như thế này… Nếu việc lộ ra lập tức mất đầu.
Người tín cẩn y lệnh thi hành.
Hôm sau khắp kinh thành ai nấy đều nghe lắm kẻ hát câu ca rằng:
Gái đâu có gái lạ lùng.
Con vua mà lấy hai chồng làm vua.
Bá tánh già trẻ bàn tán với nhau:
- Ngọc Hân công chúa nhà Lê đã là Bắc cung Hoàng hậu dưới triều Quang Trung Hoàng đế. Nay dù bị bắt thì nên chết đi mới phải sao lại chịu nhục mà làm thiếp cho vua Gia Long thế. Thật xấu hố thay!
Thương thay Thái hậu Ngọc Hân đã chết thảm còn mang tiếng nhơ oan ức!
Xong việc ấy, Nguyễn Văn Trương lại đến tâu:
- Tướng quân Lê Văn Duyệt sai thần giải Cảnh Thịnh về kinh cho Bệ hạ trị tội và xin lệnh Bệ hạ xét xử các văn thần nhà Lê như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích sau theo giặc Tây Sơn phải tội như thế nào?
Vua Gia Long nhanh trí cười vui vẻ đáp liền: - Bọn họ trước là tôi thần của nhà Lê, mà ta đây rất quý nhà Lê. Vậy truyền tha tội chỉ đánh mỗi ngươi hai mươi trượng rồi đuổi về dân dã.
Nguyễn Văn Trương vâng lệnh lên đường ra Bắc. Ra ngoài thành, Trương nghe thiên hạ bàn tán rằng:
- Các tôi thần của Tây Sơn đều bị tru di tam tộc. Sao Gia Long lại tha tội chết cho bọn cựu thần nhà Lê là Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích?
Kẻ khác lại bảo:
- Ấy là vì công chúa nhà Lê là Ngọc Hân đã về làm thiếp cho Gia Long, vì lấy lòng Lê Ngọc Hân nên vua mới tha chết cho bọn cựu thần nhà Lê đó.
Nói xong họ lại ca rằng:
Gái đâu có gái lạ lùng.
Con vua mà lấy hai chồng làm vua.
Nguyễn Văn Trương vừa đi vừa nghĩ:
- Lê Ngọc Hân thật chẳng ra gì.

Lê Dân- Kiếm Gỗ
- Tổng số bài gửi: 80
Join date: 02/03/2010
Đến từ: đâu ai biết
Re: Tây Sơn bi hùng truyện - Lê Đình Danh
Chương 70
Ngô Thì Nhậm chết đòn vì đôi câu đối.
Nguyễn Văn Thành bị giết bởi một bài thơ.
Nói về Nguyễn Văn Trương đem lệnh của vua Gia Long ra Bắc Hà trao cho Lê Văn Duyệt. Duyệt liền bảo Đặng Trần Thường:
- Ngày mai ông theo lệnh vua bắt bọn tôi thần nhà Lê theo Nhạc, Huệ đánh mỗi người hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã.
Hôm sau Đặng Trần Thường sai quân giải các cựu thần nhà Lê ra nằm trước công đường chịu phạt trượng.
Đặng Trần Thường hỏi Ngô Thì Nhậm:
- Ngô huynh có thấy trời cao có mắt chăng?
Nhậm hỏi lại Thường:
- Thế nào là trời cao có mắt?
Thường đáp:
- Năm xưa cũng tại nơi này Nguyễn Huệ đánh tôi hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã. Ngày nay vua tôi lại đánh Ngô huynh hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã. Thế chẳng phải trời cao có mắt hay sao?
Nhậm đang nằm, ngẩng mặt lên bảo Thường:
- Năm xưa Chúa tôi đòi chém Đặng huynh. Nếu tôi không xin cho Đặng huynh thì đã mất đầu chứ đâu phải bị hai mươi roi mà thôi. Ơn không nhớ thời thôi, sao lại đem lòng kết oán?
Thường cười đáp:
- Nào tôi có đem lòng kết oán ông đâu. Nhưng người tài thường hay gặp nạn. Nay ông gặp nạn giống tôi ngày xưa, vậy tài tôi và ông ngang nhau vậy.
Nhậm nghe thế dằn lòng không được buột miệng nói:
- Tôi và Đặng huynh ngang tài nhau, nhưng chỉ có một mình tôi là biết được kế “Phạt thảo kinh xà" của Chúa tôi mà thôi.
Thường cười to hỏi:
- Vậy là ông vẫn tự cho rằng ông tài hơn tôi ư?
Nhậm giật mình đáp:
- Tôi không dám!
Thường nói tiếp:
- Tôi xin ra một vế đối, nếu ông đối được tôi mới phục rằng ông tài hơn tôi.
Nhậm mừng thầm nghĩ: "Nó ra vế đối, ta làm bộ không đối được ắt nó sẽ không cố tình làm tội ta". Nghĩ xong Nhậm nói:
- Xin Đặng huynh ra vế đối.
Thường ung dung đọc:
- Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai!
Nhậm nóng mắt đáp ngay:
- Thế Chiến Quốc, Thế Xuân Thu, bởi thời thế, thế thì phải thế!
Nghe xong Thường lẳng lặng đến gần tên võ sĩ bảo:
- Lát nữa ta hạ lệnh đánh bọn này mỗi đứa hai mươi roi. Ngươi lãnh phần đánh Ngô Thì Nhậm, hãy đánh mạnh tay vào, nếu Ngô Thì Nhậm chết thì ngươi có thưởng.
Đến lúc thọ hình tên võ sĩ dùng hết sức mà đánh. Ngô Thì Nhậm đau đớn hét lên rằng:
- Đặng Trần Thường, hãy nhớ lấy lời ta. Ngươi hại ta chết, tất ngươi phải bị chết theo!
Nhậm hét xong thổ huyết mà chết.
Bá tánh thành Thăng Long biết tin ấy bàn với nhau rằng:
- Đã ra lệnh tha thời thôi lại còn bảo ngầm tay chân đánh chết danh sĩ Ngô Thì Nhậm. Vua Gia Long thật là người cố chấp.
Tin ấy bay về đến tai vua Gia Long ở Phú Xuân. Vua gọi Đặng Đức Siêu đến hỏi:
- Đặng Trần Thường vì thù riêng phạm vào thượng lệnh làm mang tiếng đến ta, phải xử thế nào?
Đặng Đức Siêu hỏi lại vua rằng:
- Dân Thăng Long ngỡ đấy là lệnh của Bệ hạ nên mới đem lòng oán Bệ hạ. Vậy muốn an lòng dân xứ Bắc phải làm như thế nào?
Vua Gia Long đáp:
- Phải xử tội Đặng Trần Thường ở Bắc Hà.
Đặng Đức Siêu lại bàn:
- Nhưng Tổng trấn Bắc thành là Lê Văn Duyệt cũng phải có phần trách nhiệm. Bệ hạ nên bố cáo trong dân triệu Lê Văn Duyệt về kinh trị tội và chém đầu Đặng Trần Thường thì mới an được lòng dân xứ Bắc.
Vua Gia Long bảo:
- Lê Văn Duyệt vô tội, lại là bậc khai quốc công thần sao lại vô cớ mà trị tội?
Siêu đáp:
- Ta bố cáo với dân chúng Bắc Hà như thế để an lòng bá tánh chứ nào trị tội Lê Văn Duyệt đâu mà Bệ hạ phải ngại?
Vua Gia Long lại nói:
- Vậy phải làm sao để khỏi gây bất bình cho Lê Văn Duyệt và các công thần?
Siêu đáp:
- Bệ hạ phong Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn Bắc thành, phong Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định thành là định yên xã tắc.
Vua Gia Long khen:
- Ấy thật là kế sách vẹn toàn.
Nói xong liền theo kế ấy thi hành.
Nguyễn Văn Thành lãnh lệnh bài ra làm tổng trấn Bắc thành, đem Đặng Trần Thường ra trước dân hành quyết. Lúc đao phủ khai đao, Thường ngửa mặt than rằng:
- Ngô Thì Nhậm thật đáng là bậc thầy của ta vậy!
Than dứt lời đầu lìa khỏi cổ.
Đặng Trần Thường bị chém và Lê Văn Duyệt bị đổi đi, dân Bắc Hà lại bàn với nhau rằng:
- Việc giết Ngô Thì Nhậm là do Đặng Trần Thường trả tư thù, đến nỗi Lê Văn Duyệt phải bị vạ lây. Vua Gia Long thật là công minh chính trực.
Vua Gia Long lại phong Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định thành. Các tướng khác đều được phong chức đi trẫm nhậm các phủ. Từ ấy bốn phương thiên hạ thái bình.
***
Hai năm sau, tả hữu tâu với Vua Gia Long rằng:
- Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn Bắc thành được hai năm mà bốn cõi yên vui, vạn nhà no ấm. Ông ấy đi đến đâu nhân dân Bắc Hà đều ra khỏi nhà nghênh đón. Công đức của ông ấy thật là to lớn vậy.
Vua Gia Long liền viết chiếu chỉ sai sứ giả ra Bắc triệu Nguyễn Văn Thành hồi kinh. Về Phú Xuân gặp vua Gia Long, Thành quỳ tâu:
- Thần là Nguyễn Văn Thành, xin về phục mệnh.
Vua Gia Long bảo Nguyễn Văn Thành ngồi rồi bảo:
- Nay đất Bắc đã yên nên trẫm triệu khanh về giữ chức Trung quân tham mưu kề cận bên ta lo việc quốc gia. Khanh có vui lòng chăng?
Thành lạy đáp:
- Thần xin muôn đội hoàng ân!
Nguyễn Văn Thành về đến tư dinh gặp con mình là Nguyễn Văn Thuyên đang sửa soạn bút nghiên, Thành hỏi:
- Con đang làm gì đó?
Thuyên đáp:
- Con có hai người bạn là Nguyễn Đức Thuận và Nguyễn Văn Khuê ở Thanh Hoá, nổi tiếng văn hay. Con định viết một bài thơ đợi khi cha con ta về Bắc Hà đi ngang Thanh Hoá sẽ gửi thơ mời hai người ấy đến chơi.
Nghe Thuyên nói xong, Thành hỏi:
- Gia đình ta không phải về Thăng Long nữa.
Thuyên ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao thế thưa cha?
Thành kể lại sự việc vừa gặp vua xong, Thuyên nói:
- Vua là người đa nghi. Con e vua thấy cha lớn quyền xứ Bắc đâm nghi sợ, nên mới triệu cha về kinh, cha phải cẩn thận mới được.
Thành nạt liền:
- Vua biết ta một dạ trung quân, sao ngươi dám buông lời gièm xiểm? Về sau còn tái phạm ta quyết trị không tha.
Nói xong trong lòng bực bội, Thành bỏ vào phòng riêng. Còn lại một mình, Thuyên liền viết ngay một phong thư và gọi người hầu là Trương Hiệu đến dặn rằng:
- Ngươi hãy mang bức thư này đến Thanh Hoá trao cho hai bạn ta. Đây là bạc lộ phí, hãy kíp đi ngay.
Chẳng dè Hiệu là đứa ham rượu, sẵn bạc của Thuyên đưa làm lộ phí, Hiệu uống rượu say rồi vừa đi vừa lải nhải rằng:
- Ta đi mời nhân tài đến giúp nhau xoay đổi hội cơ này!
Ngờ đâu quân tín cẩn của vua nghe được lời ấy bắt lấy Hiệu, hỏi:
- Ngươi vừa nói lời phản nghịch là ý thế nào?
Hiệu hoảng sợ liền đưa lá thư của Thuyên và thưa:
- Lời tôi nói là ở trong thư này, nào phải tôi tự đặt ra.
Quan quân hỏi:
- Thư này của ai. Nói mau, phải chém.
Hiệu liền đáp:
- Của Nguyễn Văn Thuyên con quan Trung quân tham mưu Nguyễn Văn Thành.
Quân tín cẩn của vua không dám quyết bèn giải cả Hiệu lẫn thư đến gặp vua Gia Long. Vua đọc thư rằng:
Ái Châu nghe nói lắm người hay.
Ao ước cầu hiền đã bấy nay.
Ngọc phát Kinh sơn tài sẵn có.
Ngựa kỳ Ký Bắc biết lâu thay.
Mùi hương hang tối xa ngàn dặm.
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây.
Sơn tể phen này dù gặp gỡ.
Giúp nhau xoay đổi hội cơ này.
Xem xong, vua Gia Long vỗ án quát:
- Quả nhiên lời nói của loạn thần. Quân bay mau bắt hết cả nhà Nguyễn Văn Thành cho ta.
Quân đưa Thành đến quỳ dưới thềm. Thành lo sợ và ngạc nhiên hỏi:
- Tâu Bệ hạ thần có tội gì?
Vua cười gằn bảo:
- Ngươi toan mưu làm phản, lại còn vờ không biết tội ư?
Thành thất kinh kêu:
- Oan cho thần lắm. Xin Bệ hạ chớ nghe lời sàm tấu mà bắt tội oan cho thần.
Vua Gia Long liền quăng thư của Nguyễn Văn Thuyên ra cho Thành. Đọc xong Thành than:
- Thuyên ơi, con đã hại cha rồi!
Đoạn Thành khóc lạy thưa:
- Thư này là bút tích của con hạ thần tên Nguyễn Văn Thuyên. Nhưng nó chẳng qua là trẻ con nói ngông mà thôi, xin Bệ hạ xét lại mà tha tội cho thần một phen.
Vua Gia Long bảo:
- Tội hay không phải giao cho viện pháp ty xét xử.
Nói xong vua truyền bãi triều. Nguyễn Văn Thành chạy theo níu áo vua khóc lớn rằng:
- Thần theo Bệ hạ từ thuở nhỏ, lúc còn đang long đong dựng nghiệp. Nay thần vô tội Bệ hạ không xét giùm mà giao cho pháp ty xử thì thần tránh sao khỏi tội. Bệ hạ nỡ lòng nào thấy thần chết mà không cứu!
Vua Gia Long mặc Thành kêu khóc, cương quyết dứt áo mà đi. Các quan trong pháp ty thấy vậy bàn với nhau rằng:
- Ta nên xét tội Nguyễn Văn Thành thế nào?
- Vua giao cho bọn ta xét, tất muốn Thành phải chết. Vậy ta còn dám không tuân sao?
Luận tội xong, quan pháp ty dâng bản án lên vua. Vua Gia Long bảo:
- Pháp ty luận tội cha con Nguyễn Văn Thành phải chém. Nhưng ta nghĩ Thành là khai quốc công thần, vậy cho được tự xử.
Nói xong vua sai người vào ngục dâng cho Thành một giải lụa, một thanh gươm và một chén thuốc độc. Thành trông thấy ngửa mặt than:
- Thỏ non đã hết, chó săn phải chết. Thương thay Lê Văn Quân. Thương thay Lê Văn Quân!
Dứt lời, Thành bưng chén thuốc độc uống vào thổ huyết chết ngay.
Hay tin ấy Lê Chất than rằng:
- Đến Nguyễn Văn Thành mà còn như thế. Một tướng cũ Tây Sơn như ta nào có đáng gì, phải liệu mà giữ mình. Đối đãi với công thần thật không ai bằng vua Quang Trung vậy.
Từ ấy về sau đất nước thống nhất, bốn phương thiên hạ thái bình, không còn cảnh binh đao khói lửa. Việc thành bại là ở lòng trời. Kẻ có công, người có tội, ai anh hùng, ai tiểu nhân xin để người đời sau bình luận vậy!
Đời sau có người tên Nguyễn Trọng Trì quê ở Vân Sơn, An Nhơn, Bình Định hoài cảm giai đoạn lịch sử này có viết bài thơ rằng:
Loạn thế anh hùng sản xuất đa.
Bắc Nam dược mã dự huy qua.
Thập niên huyết chiến thành hà sự.
Không thính ngư tiều tuý tửu ca!.
Tạm dịch:
Loạn đời sinh lắm anh hùng.
Thanh gươm yên ngựa vẫy vùng Bắc Nam.Mười năm(?) máu đổ (như) mây tuôn.
Người câu, hái củi ca buồn giọng say!.
Quy Nhơn, ngày 1-1-2003
Ngô Thì Nhậm chết đòn vì đôi câu đối.
Nguyễn Văn Thành bị giết bởi một bài thơ.
Nói về Nguyễn Văn Trương đem lệnh của vua Gia Long ra Bắc Hà trao cho Lê Văn Duyệt. Duyệt liền bảo Đặng Trần Thường:
- Ngày mai ông theo lệnh vua bắt bọn tôi thần nhà Lê theo Nhạc, Huệ đánh mỗi người hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã.
Hôm sau Đặng Trần Thường sai quân giải các cựu thần nhà Lê ra nằm trước công đường chịu phạt trượng.
Đặng Trần Thường hỏi Ngô Thì Nhậm:
- Ngô huynh có thấy trời cao có mắt chăng?
Nhậm hỏi lại Thường:
- Thế nào là trời cao có mắt?
Thường đáp:
- Năm xưa cũng tại nơi này Nguyễn Huệ đánh tôi hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã. Ngày nay vua tôi lại đánh Ngô huynh hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã. Thế chẳng phải trời cao có mắt hay sao?
Nhậm đang nằm, ngẩng mặt lên bảo Thường:
- Năm xưa Chúa tôi đòi chém Đặng huynh. Nếu tôi không xin cho Đặng huynh thì đã mất đầu chứ đâu phải bị hai mươi roi mà thôi. Ơn không nhớ thời thôi, sao lại đem lòng kết oán?
Thường cười đáp:
- Nào tôi có đem lòng kết oán ông đâu. Nhưng người tài thường hay gặp nạn. Nay ông gặp nạn giống tôi ngày xưa, vậy tài tôi và ông ngang nhau vậy.
Nhậm nghe thế dằn lòng không được buột miệng nói:
- Tôi và Đặng huynh ngang tài nhau, nhưng chỉ có một mình tôi là biết được kế “Phạt thảo kinh xà" của Chúa tôi mà thôi.
Thường cười to hỏi:
- Vậy là ông vẫn tự cho rằng ông tài hơn tôi ư?
Nhậm giật mình đáp:
- Tôi không dám!
Thường nói tiếp:
- Tôi xin ra một vế đối, nếu ông đối được tôi mới phục rằng ông tài hơn tôi.
Nhậm mừng thầm nghĩ: "Nó ra vế đối, ta làm bộ không đối được ắt nó sẽ không cố tình làm tội ta". Nghĩ xong Nhậm nói:
- Xin Đặng huynh ra vế đối.
Thường ung dung đọc:
- Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai!
Nhậm nóng mắt đáp ngay:
- Thế Chiến Quốc, Thế Xuân Thu, bởi thời thế, thế thì phải thế!
Nghe xong Thường lẳng lặng đến gần tên võ sĩ bảo:
- Lát nữa ta hạ lệnh đánh bọn này mỗi đứa hai mươi roi. Ngươi lãnh phần đánh Ngô Thì Nhậm, hãy đánh mạnh tay vào, nếu Ngô Thì Nhậm chết thì ngươi có thưởng.
Đến lúc thọ hình tên võ sĩ dùng hết sức mà đánh. Ngô Thì Nhậm đau đớn hét lên rằng:
- Đặng Trần Thường, hãy nhớ lấy lời ta. Ngươi hại ta chết, tất ngươi phải bị chết theo!
Nhậm hét xong thổ huyết mà chết.
Bá tánh thành Thăng Long biết tin ấy bàn với nhau rằng:
- Đã ra lệnh tha thời thôi lại còn bảo ngầm tay chân đánh chết danh sĩ Ngô Thì Nhậm. Vua Gia Long thật là người cố chấp.
Tin ấy bay về đến tai vua Gia Long ở Phú Xuân. Vua gọi Đặng Đức Siêu đến hỏi:
- Đặng Trần Thường vì thù riêng phạm vào thượng lệnh làm mang tiếng đến ta, phải xử thế nào?
Đặng Đức Siêu hỏi lại vua rằng:
- Dân Thăng Long ngỡ đấy là lệnh của Bệ hạ nên mới đem lòng oán Bệ hạ. Vậy muốn an lòng dân xứ Bắc phải làm như thế nào?
Vua Gia Long đáp:
- Phải xử tội Đặng Trần Thường ở Bắc Hà.
Đặng Đức Siêu lại bàn:
- Nhưng Tổng trấn Bắc thành là Lê Văn Duyệt cũng phải có phần trách nhiệm. Bệ hạ nên bố cáo trong dân triệu Lê Văn Duyệt về kinh trị tội và chém đầu Đặng Trần Thường thì mới an được lòng dân xứ Bắc.
Vua Gia Long bảo:
- Lê Văn Duyệt vô tội, lại là bậc khai quốc công thần sao lại vô cớ mà trị tội?
Siêu đáp:
- Ta bố cáo với dân chúng Bắc Hà như thế để an lòng bá tánh chứ nào trị tội Lê Văn Duyệt đâu mà Bệ hạ phải ngại?
Vua Gia Long lại nói:
- Vậy phải làm sao để khỏi gây bất bình cho Lê Văn Duyệt và các công thần?
Siêu đáp:
- Bệ hạ phong Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn Bắc thành, phong Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định thành là định yên xã tắc.
Vua Gia Long khen:
- Ấy thật là kế sách vẹn toàn.
Nói xong liền theo kế ấy thi hành.
Nguyễn Văn Thành lãnh lệnh bài ra làm tổng trấn Bắc thành, đem Đặng Trần Thường ra trước dân hành quyết. Lúc đao phủ khai đao, Thường ngửa mặt than rằng:
- Ngô Thì Nhậm thật đáng là bậc thầy của ta vậy!
Than dứt lời đầu lìa khỏi cổ.
Đặng Trần Thường bị chém và Lê Văn Duyệt bị đổi đi, dân Bắc Hà lại bàn với nhau rằng:
- Việc giết Ngô Thì Nhậm là do Đặng Trần Thường trả tư thù, đến nỗi Lê Văn Duyệt phải bị vạ lây. Vua Gia Long thật là công minh chính trực.
Vua Gia Long lại phong Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định thành. Các tướng khác đều được phong chức đi trẫm nhậm các phủ. Từ ấy bốn phương thiên hạ thái bình.
***
Hai năm sau, tả hữu tâu với Vua Gia Long rằng:
- Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn Bắc thành được hai năm mà bốn cõi yên vui, vạn nhà no ấm. Ông ấy đi đến đâu nhân dân Bắc Hà đều ra khỏi nhà nghênh đón. Công đức của ông ấy thật là to lớn vậy.
Vua Gia Long liền viết chiếu chỉ sai sứ giả ra Bắc triệu Nguyễn Văn Thành hồi kinh. Về Phú Xuân gặp vua Gia Long, Thành quỳ tâu:
- Thần là Nguyễn Văn Thành, xin về phục mệnh.
Vua Gia Long bảo Nguyễn Văn Thành ngồi rồi bảo:
- Nay đất Bắc đã yên nên trẫm triệu khanh về giữ chức Trung quân tham mưu kề cận bên ta lo việc quốc gia. Khanh có vui lòng chăng?
Thành lạy đáp:
- Thần xin muôn đội hoàng ân!
Nguyễn Văn Thành về đến tư dinh gặp con mình là Nguyễn Văn Thuyên đang sửa soạn bút nghiên, Thành hỏi:
- Con đang làm gì đó?
Thuyên đáp:
- Con có hai người bạn là Nguyễn Đức Thuận và Nguyễn Văn Khuê ở Thanh Hoá, nổi tiếng văn hay. Con định viết một bài thơ đợi khi cha con ta về Bắc Hà đi ngang Thanh Hoá sẽ gửi thơ mời hai người ấy đến chơi.
Nghe Thuyên nói xong, Thành hỏi:
- Gia đình ta không phải về Thăng Long nữa.
Thuyên ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao thế thưa cha?
Thành kể lại sự việc vừa gặp vua xong, Thuyên nói:
- Vua là người đa nghi. Con e vua thấy cha lớn quyền xứ Bắc đâm nghi sợ, nên mới triệu cha về kinh, cha phải cẩn thận mới được.
Thành nạt liền:
- Vua biết ta một dạ trung quân, sao ngươi dám buông lời gièm xiểm? Về sau còn tái phạm ta quyết trị không tha.
Nói xong trong lòng bực bội, Thành bỏ vào phòng riêng. Còn lại một mình, Thuyên liền viết ngay một phong thư và gọi người hầu là Trương Hiệu đến dặn rằng:
- Ngươi hãy mang bức thư này đến Thanh Hoá trao cho hai bạn ta. Đây là bạc lộ phí, hãy kíp đi ngay.
Chẳng dè Hiệu là đứa ham rượu, sẵn bạc của Thuyên đưa làm lộ phí, Hiệu uống rượu say rồi vừa đi vừa lải nhải rằng:
- Ta đi mời nhân tài đến giúp nhau xoay đổi hội cơ này!
Ngờ đâu quân tín cẩn của vua nghe được lời ấy bắt lấy Hiệu, hỏi:
- Ngươi vừa nói lời phản nghịch là ý thế nào?
Hiệu hoảng sợ liền đưa lá thư của Thuyên và thưa:
- Lời tôi nói là ở trong thư này, nào phải tôi tự đặt ra.
Quan quân hỏi:
- Thư này của ai. Nói mau, phải chém.
Hiệu liền đáp:
- Của Nguyễn Văn Thuyên con quan Trung quân tham mưu Nguyễn Văn Thành.
Quân tín cẩn của vua không dám quyết bèn giải cả Hiệu lẫn thư đến gặp vua Gia Long. Vua đọc thư rằng:
Ái Châu nghe nói lắm người hay.
Ao ước cầu hiền đã bấy nay.
Ngọc phát Kinh sơn tài sẵn có.
Ngựa kỳ Ký Bắc biết lâu thay.
Mùi hương hang tối xa ngàn dặm.
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây.
Sơn tể phen này dù gặp gỡ.
Giúp nhau xoay đổi hội cơ này.
Xem xong, vua Gia Long vỗ án quát:
- Quả nhiên lời nói của loạn thần. Quân bay mau bắt hết cả nhà Nguyễn Văn Thành cho ta.
Quân đưa Thành đến quỳ dưới thềm. Thành lo sợ và ngạc nhiên hỏi:
- Tâu Bệ hạ thần có tội gì?
Vua cười gằn bảo:
- Ngươi toan mưu làm phản, lại còn vờ không biết tội ư?
Thành thất kinh kêu:
- Oan cho thần lắm. Xin Bệ hạ chớ nghe lời sàm tấu mà bắt tội oan cho thần.
Vua Gia Long liền quăng thư của Nguyễn Văn Thuyên ra cho Thành. Đọc xong Thành than:
- Thuyên ơi, con đã hại cha rồi!
Đoạn Thành khóc lạy thưa:
- Thư này là bút tích của con hạ thần tên Nguyễn Văn Thuyên. Nhưng nó chẳng qua là trẻ con nói ngông mà thôi, xin Bệ hạ xét lại mà tha tội cho thần một phen.
Vua Gia Long bảo:
- Tội hay không phải giao cho viện pháp ty xét xử.
Nói xong vua truyền bãi triều. Nguyễn Văn Thành chạy theo níu áo vua khóc lớn rằng:
- Thần theo Bệ hạ từ thuở nhỏ, lúc còn đang long đong dựng nghiệp. Nay thần vô tội Bệ hạ không xét giùm mà giao cho pháp ty xử thì thần tránh sao khỏi tội. Bệ hạ nỡ lòng nào thấy thần chết mà không cứu!
Vua Gia Long mặc Thành kêu khóc, cương quyết dứt áo mà đi. Các quan trong pháp ty thấy vậy bàn với nhau rằng:
- Ta nên xét tội Nguyễn Văn Thành thế nào?
- Vua giao cho bọn ta xét, tất muốn Thành phải chết. Vậy ta còn dám không tuân sao?
Luận tội xong, quan pháp ty dâng bản án lên vua. Vua Gia Long bảo:
- Pháp ty luận tội cha con Nguyễn Văn Thành phải chém. Nhưng ta nghĩ Thành là khai quốc công thần, vậy cho được tự xử.
Nói xong vua sai người vào ngục dâng cho Thành một giải lụa, một thanh gươm và một chén thuốc độc. Thành trông thấy ngửa mặt than:
- Thỏ non đã hết, chó săn phải chết. Thương thay Lê Văn Quân. Thương thay Lê Văn Quân!
Dứt lời, Thành bưng chén thuốc độc uống vào thổ huyết chết ngay.
Hay tin ấy Lê Chất than rằng:
- Đến Nguyễn Văn Thành mà còn như thế. Một tướng cũ Tây Sơn như ta nào có đáng gì, phải liệu mà giữ mình. Đối đãi với công thần thật không ai bằng vua Quang Trung vậy.
Từ ấy về sau đất nước thống nhất, bốn phương thiên hạ thái bình, không còn cảnh binh đao khói lửa. Việc thành bại là ở lòng trời. Kẻ có công, người có tội, ai anh hùng, ai tiểu nhân xin để người đời sau bình luận vậy!
Đời sau có người tên Nguyễn Trọng Trì quê ở Vân Sơn, An Nhơn, Bình Định hoài cảm giai đoạn lịch sử này có viết bài thơ rằng:
Loạn thế anh hùng sản xuất đa.
Bắc Nam dược mã dự huy qua.
Thập niên huyết chiến thành hà sự.
Không thính ngư tiều tuý tửu ca!.
Tạm dịch:
Loạn đời sinh lắm anh hùng.
Thanh gươm yên ngựa vẫy vùng Bắc Nam.Mười năm(?) máu đổ (như) mây tuôn.
Người câu, hái củi ca buồn giọng say!.
Quy Nhơn, ngày 1-1-2003

Lê Dân- Kiếm Gỗ
- Tổng số bài gửi: 80
Join date: 02/03/2010
Đến từ: đâu ai biết
Re: Tây Sơn bi hùng truyện - Lê Đình Danh
cảm ơn bạn Lê Dân nhiều nhé, rất hân hạnh được quen với bạn, mong sẽ đọc được tác phẩm của bạn nữa.
lu khach- Kiếm Bạc
- Tổng số bài gửi: 540
Join date: 27/01/2010
Đến từ: Quỷ Môn Quan
Re: Tây Sơn bi hùng truyện - Lê Đình Danh
truyện này hay quá, trước giờ mình hay đọc truyện tàu, ít khi để ý truyện VN, truyện này không khác gì Tam quốc các bác nhỉ
voanhkiem- Kiếm Gỗ
- Tổng số bài gửi: 77
Join date: 01/05/2010
Re: Tây Sơn bi hùng truyện - Lê Đình Danh
hihi công nhận truyện này hay quá ! nhờ bác @Lữ Khách post mình mới dược đọc nó , mấy bài sau chờ hoài không thấy post nên mình mới post tiếp cho hết luôn .
ai còn biết bộ truyện dã sử nào tương tự nữa ko nhỉ , nghe nói bộ truyện "Dinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân" cũng hay lắm ai có biết kg nhể ....???
ai còn biết bộ truyện dã sử nào tương tự nữa ko nhỉ , nghe nói bộ truyện "Dinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân" cũng hay lắm ai có biết kg nhể ....???

Lê Dân- Kiếm Gỗ
- Tổng số bài gửi: 80
Join date: 02/03/2010
Đến từ: đâu ai biết
Re: Tây Sơn bi hùng truyện - Lê Đình Danh
nghe nói truyện Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác cũng nói về nhà Tây Sơn đó, Dân thử tìm đọc coi sao, nếu thấy hay thì mang về đăng cũng hay
lu khach- Kiếm Bạc
- Tổng số bài gửi: 540
Join date: 27/01/2010
Đến từ: Quỷ Môn Quan
Trang 15 trong tổng số 15 trang •
1 ... 9 ... 13, 14, 15
Similar topics» cho mình xin tài liệu môn luật hôn nhân và gia đình với!!!
» Danh sách lớp
» Q and A: Featured Visualizer; Bui Tuan Hung
» wWw.YenLacPRO.Tk forum dành riêng cho các bạn Teen Yên Lạc!
» Thông tin gây sốc về bộ truyện Thám tử lừng danh CONAN
» Danh sách lớp
» Q and A: Featured Visualizer; Bui Tuan Hung
» wWw.YenLacPRO.Tk forum dành riêng cho các bạn Teen Yên Lạc!
» Thông tin gây sốc về bộ truyện Thám tử lừng danh CONAN
Trang 15 trong tổng số 15 trang
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết





